Tình hình dị ứng thuốc

Phản ứng thuốc thường gặp chiếm khoảng 2 – 3% số bệnh nhân điều trị nội trú, nếu tính toàn bộ các biến chứng do thuốc điều trị ở bệnh nhân nội trú thì tỷ lệ lên tới 19% (Hoa Kỳ). Phần lớn các phản ứng thuốc là nhẹ, kèm theo triệu chứng ngứa và khỏi sau khi ngừng dùng thuốc đã gây nên dị ứng. Tuy nhiên một số trường hợp dị ứng thuốc nặng đe dọa đến tính mạng người bệnh.

Dị ứng thuốc có thể gây nên khi dùng thuốc qua đường tiêm, đường uống hoặc tại chỗ (bôi, nhỏ).

Nguyên nhân dị ứng thuốc

Số lượng thuốc lưu hành trên thị trường ngày càng tăng, nhiều hóa chất được sử dụng trong việc chữa bệnh.

Cơ thể ngày càng mẫn cảm do thuốc và hóa chất sử dụng nhiều, thuốc ngấm qua thức ăn, rau, sữa…

Chủ yếu do các sai sót trong chế độ sử dụng thuốc của bản thân bệnh nhân cũng như của thày thuốc.

  • Bệnh nhân tự dùng thuốc.
  • Thày thuốc dùng không đúng chỉ định, dùng kéo dài, dùng bao vây.

Dị ứng thuốc thường xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng, những người đã mắc các bệnh như: viêm da, sẩn ngứa, eczema, mày đay, viêm mũi theo mùa, hen phế quản…

Dị ứng thuốc!
Dị ứng thuốc!

Thuốc hay gây dị ứng

Bất kỳ thuốc gì cũng có thể gây dị ứng, sau đây là một số nhóm hay gây dị ứng.

Thuốc có trọng lượng phân tử cao: máu, đạm, vacxin, huyết thanh… có tính chất kháng nguyên mạnh.

Kháng sinh: penixilin, streptomycin, rifamycin…

Nhóm hạ nhiệt: paracetamil, seda, APC, aspirin…

Thuốc gây tên, gây ngủ, giãn cơ: novocain, thiopentan…

Một số nội tiết tố: insulin, ACTH.

Vitamin: vitamin B1, vitamin C, vitamin B12.

Một số vacxin và huyết thanh: kháng độc tốc bạch hầu, uốn ván.

Các chất cản quang có iot.

Một số thể lâm sàng dị ứng thuốc

Sốc phản vệ

Ngay sau khi dùng thuốc xuất hiện triệu chứng:

Cảm giác khác thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi…)

Mẩn ngứa, ban đỏ, mày đay, phù Quinck.

Mạch nhanh nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt, có khi không đo được.

Khó thở, nghẹt thở.

Đau quặn bụng, ỉa đái không tự chủ.

Choáng váng, vật vã, giãy giụa, co giật, hôn mê.

Mày đay cấp do thuốc

Sau khi dùng thuốc hoặc sau vài giờ xuất hiện: ngứa dữ dội, trên da nổi sẩn mày đay riêng rẽ hoặc từng đám, khó thở, đau bụng, ỉa chảy, huyết áp bình thường.

Đỏ toàn thân

Sau khi dùng thuốc một vài giờ đến nhiều ngày trên da xuất hiện các mảng đỏ, ban sẩn, ngứa, mụn nước lấm tấm, có chỗ bọng nước to đường kính 1 cm.

Trường hợp nặng ngoài thương tổn da còn nổi phù nề trợt loét.

Các tạng hay bị thương tổn trong dị ứng thuốc là thận, biểu hiện: phù, đái ít. Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, nặng có thương tổn gan, da niêm mạc vàng, men gan tăng cao, giảm khối lượng tuần hoàn, huyết áp.

Điều trị dị ứng thuốc

Nguyên tắc

Ngừng các loại thuốc nghi ngờ dị ứng.

Chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết.

Cân nhắc khi dùng kháng sinh, chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm rõ và khi dùng phải theo dõi dị ứng kháng sinh, nên chọn erythromycin vì ít gây dị ứng hơn.

Chú ý vệ sinh phòng chống nhiễm trùng thứ phát.

Bồi phụ nước, điện giải.

Điều trị cụ thể

Sốc phản vệ

a) Xử trí khẩn trương, chính xác, kịp thời.

Adrenalin là thuốc quan trọng nhất để cấp cứu sốc phản vệ.

Adrenalin ống 1 mg tiêm bắp hoặc dưới da theo liều:

1/2 –  1 ống mg ở người lớn, hoặc adrenalin 0,01 mg/kg cân nặng cho cả trẻ em và người lớn.

Tiếp tục tiêm andrenalin liều như trên cứ 10 – 15 phút một lần cho đến khi huyết áp trở lại bình thường.

* Cho bệnh nhân nằm đầu thấp, ủ ấm, theo dõi huyết áp 10 – 15 phút một lần.

* Các thuốc khác: depersolon 30 mg x 1 – 2 ống; tiêm bắp thịt hoặc tĩnh mạch.

b) Dimedrol 1‰ x 1 – 2 ống; tiêm bắp thịt.

c) Chú ý: không khí, thổi ngạt, thở oxy, hô hấp hỗ trợ, mở khí quản nếu cần.

d) Nếu bệnh nhân chưa đỡ thì chuyển khoa hồi sức cấp cứu xử trí tiếp.

Điều trị ban mày đay cấp

Ngừng ngay thuốc đang dùng.

Depersolon 30mg x 1 – 2 ống; tiêm bắp sâu hoặc tĩnh mạch.

Nhiễm độc da dị ứng

Ngừng ngay thuốc đang điều trị

Truyền thanh huyết ngọt đẳng trước hoặc thanh huyết mặn đẳng trương x 1500 – 3000 ml/ 24 giờ những ngày đầu với các ca dị ứng thuốc vừa và nặng.

Corticoide toàn thân: nhẹ dùng đường uống (Prednisolon) nặng dùng đường tiêm.

Dùng kháng sinh histamin tổng hợp như: clopheniramin 4 mg x 2 viên/ ngày hoặc Dimedrol 1‰ x 1 – 2 ống; tiêm bắp thịt chia 2 lần.

Các thuốc khác:

Lợi tiểu trong trường hợp có thương tổn thận: Lasix 40mg x 1 – 2 ống/ngày.

Dùng kháng sinh toàn thân nếu có nhiễm khuẩn rõ.

Chọn kháng sinh ít gây dị ứng: erythromycin, lincocin…

Chăm sóc da, niêm mạc:

Vết trợt loét ở da chấm thuốc màu tím metyl 1% hoặc xanh metylen 1%.

Các vết trợt loét ở niêm mạc miệng chấm glycerin borat 3%.

Vết trợt ở mắt nhỏ NaCl 9‰.

Các vết trợt ở sinh dục rửa sạch bằng NaCl 9‰ sau đó chấm thuốc màu.

Động viên bệnh nhân ăn, uống đủ dinh dưỡng và nước, nếu bệnh nhân không ăn được thì phải đặt sonde.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người