Xuất xứViệt Nam
Quy cáchHộp 3 vỉ x 10 viên
Thương hiệuPymepharco

Thuốc Caavirel 0,5 mg được sản xuất trực tiếp tại Việt Nam, là sản phẩm của công ty cổ phần Pymepharco. Được cấp phép bởi cục quản lý dược – Bộ Y tế. Thuốc có tác dụng dùng để điều trị bệnh nhiễm virut viêm gan B mạn tính ở người lớn trong trường hợp bệnh gan còn bù và bệnh gan mất bù.

Tìm cửa hàng Mua theo đơn
Chat với dược sĩ Tư vấn thuốc & đặt hàng
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Mời bạn Chat Zalo với dược sĩ hoặc đến nhà thuốc Thân Thiện để được tư vấn.
Sản phẩm đang được chú ý, có 0 người thêm vào giỏ hàng & 9 người đang xem

THÂN THIỆN CAM KẾT

  • Cam kết hàng chính hãng
  • Đổi trả hàng trong 30 ngày
  • Xem hàng tại nhà, thanh toán
  • Hà Nội ship ngay sau 2 giờ

Thuốc Caavirel 0,5 mg là gì

Thuốc Caavirel 0,5 mg là thuốc kê đơn, sử dụng theo sự chỉ dẫn của bác sỹ. Với thành phần dược chất chính là Entecavir hàm lượng 0,5mg. Thuốc được bào chế dưới dạng viên nén bao phim, dùng trực tiếp theo đường uống. Thuốc có tác dụng để điều trị bệnh nhiễm virut viêm gan B mạn tính ở người lớn trong trường hợp bệnh gan còn bù và bệnh gan mất bù, ngoài ra cũng được chỉ định để điểu trị bệnh nhiễm virus viêm gan B mạn tính ở trẻ em từ 2 đến dưới 18 tuổi

Công dụng – chỉ định của Thuốc Caavirel 0,5 mg

Caavirel 0,5 mg được chỉ định điều trị

  • Điều trị bệnh nhiễm virus viêm gan B mạn tính trên người lớn trong trường hợp bệnh gan còn bù, có bằng chứng rõ rệt  hoạt động sao chép của virus vầ cố sự tăng cao kéo dài của men ALT hay AST huyết thanh hoặc có bằng chứng mô học vể tình trạng viêm đang hoạt động và/hoặc xơ hóa;

  • Điều trị bệnh nhiễm virus viêm gan B mạn tính trên người lớn trong trường hợp bệnh gan mất bù: chỉ định này dựa trên dữ liệu thử nghiệm lâm sàng ô bệnh nhân chưa dùng nucleosid có HBeAg dương tính và bệnh nhân nhiêm virus viêm gan B có HBeAg âm tính;

  • Entecavir cũng được chỉ định để điểu trị bệnh nhiễm virus viêm gan B mạn tính ở trẻ em từ 2 đến dưới 18 tuổi chưa dùng nucleosid trong trương hợp bệnh gan còn bù, có bằng chứng rõ rệt về hoạt động sao chép của virus và có sự tăng cao kéo dài của men ALT huyết thanh hoặc có bằng chứng mô học về tình trạng viêm ô mức độ trung bình đến nặng và/hoặc xơ hóa.

Sản phẩm đã được Cục Dược – Bộ Y tế cấp phép dưới dạng thuốc kê đơn, chỉ bán theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.

Thành phần của Thuốc Caavirel 0,5 mg

Xem thêm

Thuốc Caavirel 0,5 mg bao gồm những thành phần chính như là

Entecavir monohydrat tương đương

Entecavir: 0,5mg

Tá dược: lactose monohydrat, tinh bột ngô, croscarmellose natri, povidon, crospovidon, magnesi stearat, colloidal Silicon dioxid, opadry II white, opadry clear.

Hướng dẫn sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg

Thuốc Caavirel 0,5 mg cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng. 

Dưới đây là liều lượng tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh.

Cách dùng

Nên dùng thuốc lúc bụng đói, ít nhất 2 giờ sau khi ăn và 2 giờ trước bữa ăn kế tiếp.

Liều dùng

  • Người lớn, trẻ em > 16 tuổi bị nhiêm virus viêm gan B mạn tính trong trường hợp bệnh gan còn bù, chưa dùng nucleosid: 0,5 mg dùng một lần/ngày.
  • Người lớn, trẻ em > 16 tuổi có tiền sử nhiễm virus viêm gan B hiện diện trong máu trong khi dùng lamivudin hoặc đã biết là có đột biến kháng thuốc lamivudin: 1 mg dùng một lẩn/ngày. ở những bệnh nhân có đột biến kháng thuốc lamivudin nên phối hợp entecavir với một thuốc kháng virus khác (không kháng chéo với lamivudin hoặc entecavir) hơn là dùng entecavir đơn trị liệu.

Liều đề nghị ô người lớn nhiễm virus viêm gan B mạn tính trong trường hợp bệnh gan mất bù: 1 mg dùng một lần/ngày.

Bệnh nhân suy giảm chức năng thận:

Độ thanh lọc creatinin (ml/phút)Liều dùng đối với bệnh nhân chưa dùng nucleosidLiều dùng đối với bệnh nhân kháng Lamivudin
> 500,5mg, 1 lần/ngày1mg, 1 lẩn/ngày
30-490,5mg, mỗi 48 giờ0,5mg, 1 lần/ngày
10-290,5mg, mỗi 72 giơ0,5mg, mỗi 48 giờ
< 100,5mg, mỗi 5-7 ngày0,5mg, mỗi 72 giơ
Thẩm phân máu hoặc CAPD*0,5mg, mỗi 5-7 ngày0,5mg, mỗi 72 giờ

Trong những ngày thẩm phân máu, cần uống entecavir sau khi đã thẩm phân máu.

Bệnh nhân suy giảm chức năng gan: không cần điều chỉnh liều dùng.

Thời gian điều trị

Chưa biết rõ thời gian điều trị tối ưu. Có thể xem xét ngưng điều trị như sau:

  • Đối với bệnh nhân người lớn có HbeAg dương tính, nên điều trị ít nhất đến 12 tháng sau khi đạt được đáp ứng chuyển đảo huyết thanh HBe (mất HBsAg và mất HBV DNA đồng thơi xuất hiện anti-HBe trên hai mẫu huyết thanh liên tục cách nhau ít nhất 3-6 tháng) hoặc cho đến khi chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc mất hiệu quả.
  • Đối với bệnh nhân người lớn có HbeAg âm tính, nên điều trị ít nhất cho đến khi chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc có bằng chứng của mất hiệu quả. Trong trường hợp điều trị kéo dài hơn 2 năm, nên đánh giá lại thường xuyên để xác nhận việc tiếp tực với liệu pháp trị được chọn vẫn còn thích hợp với bệnh nhân.
  • Ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù hoặc xơ gan, không nên ngừng điều trị.

Trẻ em

  • Để phù hợp vơi liều dùng ở trẻ em, có thể dùng dung dịch uống entecavir hoặc viên nén bao phim entecavir 0,5 mg.
  • Quyết định điều trị ở bệnh nhi cần dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng về nhu cầu của từng cá nhân và hướng dẫn hiện hành vế điều trị ơ trẻ em, bao gổm cả giá trị của thông tin mô học cơ bản. Lợi ích của việc ức chế virus lâu dài với liệu pháp điều trị liên tục phải được cân nhắc so với nguy cơ điều trị kéo dài, bao gồm sự xuất hiện virus viêm gan B đề kháng.
  • Việc điều trị ở bệnh nhi có bệnh gan còn bù do viêm gan B mạn tính có HBeAg dương tính nên được tiến hành khi ALT huyết thanh tăng cao liên tục trước đó ít nhất 6 tháng; Và trong ít nhất 12 tháng ở những bệnh nhân có HBeAg âm tính.
  • Bệnh nhi có cân nặng ít nhất 32,6 kg nên dùng 1 viên nén bao phim entecavir 0,5 mg môi ngày hoặc 10 ml (0,5 mg) dung dịch uống, cùng hoặc không cùng thức ăn. Bệnh nhân có cẫn nặng dưới 32,6 kg nên dùng dạng dung dịch uống.

Thời gian điều trị cho bệnh nhi

Chưa biết rõ thời gian điều trị tối ưu. Theo hướng dân thực hành nhi khoa hiện hành, có thể xem xét ngưng điều trị như sau:

  • Ở những bệnh nhi có HBeAg dương tính, nên tiến hành điều trị trong ít nhất 12 tháng sau khi đạt được mất HBV DMA và đáp ứng chuyển đảo huyết thanh HBeAg (mất HBeAg và đồng thời xuất hiện anti-HBe trên hai mẫu huyết thanh liên tục cách nhau ít nhất 3-6 tháng) hoặc cho đến khi chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc mít hiệu quả. Nên theo dõi nồng độ ALT và HBV DNA huyết thanh thường xuyên sau khi ngừng điểu trị.
  • Ở những bệnh nhi có HBeAg âm tính, nên điều trị cho đến khi chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc có bằng chứng về mất hiệu quả.

Dược động học ở bệnh nhân nhi suy thận hoặc suy gan chưa được nghiên cứu.

Cần làm gì khi một lần quên không dùng thuốc?

  • Khi bạn một lần quên không dùng thuốc, chỉ cần uống liều tiếp theo và tiếp tục dùng thuốc theo liệu pháp đã được khuyến cáo.
  • Không được gấp đôi liều để bù vào liều đã quên.

Chống chỉ định sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg

Thuốc Ursomaxe Tablet 200mg điều trị sỏi túi mật cholesterol, bệnh gan ứ mận mạn tính
Thuốc Ursomaxe Tablet 200mg là gì Ursomaxe Tablet 200mg thuộc nhóm dược chất điều trị các bệnh về...
270.000

Để tránh gặp phải những phản ứng phụ không mong muốn thì những đối tượng sau đây không nên sử dụng:

  • Bệnh nhân mẫn cảm với thành phần của thuốc.

Cảnh báo và thận trọng trong quá trình sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg

Trong quá trình sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:

Suy chức năng thận:

  • Khuyến cáo điều Chỉnh liều đối với bệnh nhãn suy thận. Liều thay đổi được đề xuất dựa trẽn sự ngoại suy từ dữ liệu còn hạn chế, tính an toàn và hiệu quả chưa được đánh giá lâm sàng. Do đó, nên theo dõi chặt chẽ đáp ứng virus.

Các đợt cấp của viêm gan:

  • Đợt cấp tự phất trong bệnh viêm gan B mạn tính tương đối phổ biến và được đặc trưng bởi sự gia tăng thoáng qua của ALT huyết thanh. Sau khi bắt đầu liệu pháp điều trị kháng virus, ALT huyết thanh có thể tăng ở số bệnh nhân khi mức HBV DNA huyết thanh giảm. Trong số bệnh nhân dùng entecavir, thời gian khởi phát trung bình đợt cấp trong điều trị là 4-5 tuần, ở những bệnh nhân cố bệnh gan còn bù, tăng ALT huyết thanh thường không kèm theo sự gia tăng nồng độ bilirubin huyết thanh hoặc gan mất bù. Bệnh nhân có bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan có thể có nguy cơ gan mất bù cao hơn sau đợt cấp của viêm gan, và do đó cẩn được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.
  • Đợt cấp của viêm gan cũng đã được báo cáo  những bệnh nhân đã ngưng điều trị viêm gan B. Cấc đợt cấp sau điều trị thường kết hợp với tăng cao HBV DNA, và đa số có thể tự giới hạn. Tuy nhiên, đã được báo cáo vé đợt cấp nặng, bao gồm tử vong.
  • Trong số những bệnh nhân điều trị với entecavir mà trước đó chưa dùng nucleosid, thời gian khôi phát trung bình đợt cấp trong điều trị là 23-24 tuần, và hầu hết được báo cáo ô những bệnh nhân có HBeAg âm tính. Nên định kỳ theo dõi chức năng gan cả về lâm sàng và cận lâm sàng trong ít nhất 6 tháng sau khi ngưng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, có thể bắt đầu diều trị viêm gan B trở lại.

Bệnh nhân có bệnh gan mất bù:

  • Đã quan sát thấy những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên gan (bất kể nguyên nhân) xuất hiện với tỷ lệ cao hơn ở những bệnh nhân có bệnh gan mất bù, đặc biệt ỡ bệnh nhân có Child-Turcotte-Pugh (CTP) nhóm c, so với tỷ lệ ở bệnh nhân có chức năng gan còn bù. Ngoài ra, bệnh nhân có bệnh gan mất bù có thể có nguy cơ cao bị nhiễm toan lactic và tác dựng không mong muốn đặc biệt như hội chứng gan thận. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ lâm sàng và các thông số cận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân này.

Nhiễm toan lactic và gan to nhiễm mỡ nặng:

  • Đã có báo cáo về việc xuất hiện nhiêm toan lactic (trong trường hợp không thiếu oxy mấu), đôi khi gây tử vong, thường liên quan với gan to nhiễm mỡ nặng khi sử dụng các chất tương tự nucleosid. Do entecavir là một đổng đẳng nucleosid, vì vậy không thể loại trừ nguy cơ này. Nên ngưng điều trị bằng nucleosid khi mức aminotransferase tăng lên nhanh chóng, gan to tiến triển hoặc nhiễm toan chuyển hóa / nhiễm toan lactic xảy ra mà không rõ nguyên nhân. Các triệu chứng tiêu hóa lành tính như buồn nôn, nôn mửa và đau bụng, có thể là biểu hiện của sự tiến triển nhiễm toan lactic. Trường hợp nặng, đôi khi gây tử vong, có liên quan với viêm tụy, suy gan / gan nhiêm mỡ, suy thận và tăng mức lactat huyết thanh, cẩn thận trọng khi kẽ toa các chất tương tự nucleosid cho bất kỳ bệnh nhẫn nào (đặc biệt là phụ nữ béo phì) vơi gan to, viêm gan hoặc có các yếu tố nguy cơ khác của bệnh gan. Nên theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân này.
  • Để phân biệt giữa gia tăng aminotransferase do đáp ứng điều trị và khả năng liên quan đến nhiễm toan lactic, bác sĩ phải đảm bảo rằng ALT thay đổi có liên quan với sự cải thiện các dấu hiệu cận lâm sàng khác của bệnh viêm gan B mạn tính.

Đề kháng và những thận trọng đặc biệt đối vôi bệnh nhân kháng lamivudin:

  • Đột biến trong HBV polymerase thay thế mã hoá kháng lamivudin có thể dẫn đến sự thay thế thứ cấp, kể cả thay thế có liên quan với sự dề kháng entecavir (ETVr). Ở một số ít bệnh nhân kháng lamivudin, thay thế kháng entecavir tại rtT184, rtS202 hoặc rtM250 đã hiên diện ở mức cơ bàn. Bệnh nhân nhiêm HBV kháng lamivudin có nguy cơ phát triển đề kháng entecavir cao hơn so với bệnh nhân không kháng lamivudln. Xác suất tích lũy trong sự phát sinh kiểu gen kháng entecavir sau 1, 2, 3, 4 và 5 năm điều trị trong cấc nghiên cứu kháng lamivudin tương ứng là 6%, 15%, 36%, 47% và 51%. cần đuợc theo dõi thường xuyên đáp ứng virus đối với bệnh nhân kháng lamivudin và nên thực hiện thử nghiệm đề kháng thích hợp. ở bệnh nhân có dấp ứng virus tối ưu sau 24 tuần điểu trị vôi entecavir, cần được xem xét thay đổi điều trị. Khi bắt đầu điều trị ở những bệnh nhân có đột biến kháng thuốc lamivudin nên phối hợp entecavir với một thuốc kháng virus khác (không kháng chéo với lamivudin hoặc entecavir) hơn là dùng entecavir đơn trị liệu.
  • Bệnh nhân nhiễm HBV kháng lamivudin từ trước có liên quan với tăng nguy cơ kháng entecavir không phụ thuộc vào mức độ của bệnh gan; ở những bệnh nhân có bệnh gan mất bù, đột biến virus kháng thuốc có thể liên quan với các biến chứng lâm sàng nghiêm trọng của bệnh gan cơ bản. Do đó, cả bệnh nhân bệnh gan mất bù và nhiễm HBV kháng lamivudin, nên xem xét sử dụng phối hợp entecavir với một thuốc kháng virus khác (không kháng chéo vơi lamivudin hoặc entecavir) hơn là dùng entecavir đơn trị liệu.

Bệnh nhi:

  • Ở bệnh nhi đã quan sát thấy đáp ứng virus (HBV DNA < 50 lU/ml) với tỷ lệ thấp hơn so với mức HBV DNA cơ bản (> 8,0 togio IU/ml). Chỉ nên sử dụng entecavir ở những bệnh nhân này khi lợi ích vượt trội so với nguy cơ (như để kháng). Một số bệnh nhi khi có yêu cẩu điều trị dài hạn hoặc thậm chí sử dụng suốt đời để kiểm soát viêm gan B mãn tính, cần xem xét đến tác động của entecavir đối vởi lựa chọn điều trị trong tương lai.

Bệnh nhân đồng nhiễm viêm gan c hoặc D:

  • Không có dữ liệu vễ hiệu quả của thuốc này ở những bệnh nhân đổng nhiễm viêm gan c hoặc D.

Bệnh nhân ghép gan:

  • Đánh giá cẩn thận chức năng thận trước và trong khi diều trị với entecavir ở bệnh nhân ghép gan có dùng cyclosporin hoặc tacrolimus.

Bệnh nhân nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch (HIV) / bệnh nhân đồng nhiễm HBV không được điều trị với liệu pháp kháng virus đồng thời:

  • Entecavir chưa được đánh giá trong trường bệnh nhân nhiễm virus gây suy giảm miên dịch (HIV) / bệnh nhân đổng nhiêm HBV không đuợc điều trị với liệu pháp kháng virus đồng thời. Đã quan sát thấy sự xuất hiện kháng HIV khi dùng entecavir để điều trị bệnh viêm gan B mạn tính à bệnh nhân nhiêm HIV không được điều trị vôi liệu pháp kháng virus hoạt tính cao (HAART). Do đó, không nên sừ dụng entecavir để điều trị cho bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HBV không được điểu trị HAART. Entecavir chưa được nghiên cứu trong điều trị ở bệnh nhân nhiễm HIV và không được khuyến cáo cho chỉ định này.

Bệnh nhân nhiễm HlV/bệnh nhân đồng nhiễm HBV đang điểu trị với liệu pháp kháng virus đồng thời:

  • Entecavir đã được nghiên cứu ở 68 người lớn nhiêm HIV/HBV nhận HAART có chứa lamivudin. Không có dữ liệu vể hiệu quả của thuốc này ở những bệnh nhân đổng nhiêm HIV có HBeAg âm tính. Có ít dữ liệu về bệnh nhân đồng nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 thấp (< 200 tế bào/mm3).

Chung:

  • Nên khuyến cáo bệnh nhân rằng việc điều trị với entecavir không được chứng minh làm giảm nguy cơ lây truyền HBV và do đó, vẫn cẩn thực hiện biện phấp phòng ngừa thích hợp.

Lactose:

  • Sản phẩm này có chứa lactose, những bệnh nhân mấc các rối loạn di truyền hiếm gặp về dung nạp galactose, chứng thiếu hụt lactase Lapp hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose không nẽn sử dụng thuốc này.

Sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ: Chưa biết rõ nguy cơ gây rủi ro trên sự phát triển của bào thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả.

Phụ nữ có thai: Chỉ nên dùng thuốc trong thời gian có thai khi thật sự cẩn thiết và sau khi cân nhắc kỹ về những nguy cơ và lợi ích của thuốc.

Phụ nữ cho con bú: Entecavir được bài tiết trong sữa của chuột cống. Do đó, không nên dùng thuốc khi đang cho con bú.

Ảnh hưởng của Thuốc Caavirel 0,5 mg lên khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa có nghiên cứu tác động của entecavir tới khả năng lái xe và vận hành máy móc. Các tác dụng không mong muốn thường gặp như chóng mặt, mệt mỏi và buồn ngủ có thể làm giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Tương tác, tương kỵ của Thuốc Caavirel 0,5 mg

  • Dùng đồng thời entecavir với lamivudin, adetovir dipivoxil, tenotovir disoproxil íumarat không gây nên tương tác thuốc đáng kể.
  • Dùng đồng thời entecavir vơi các thuốc làm giảm chức năng thận hoặc các thuốc cạnh tranh với entecavir để dược thải â ống thận có thể làm gia tăng nồng độ trong huyết thanh của entecavir hay các thuốc được dùng chung.

Tác dụng phụ của thuốc Caavirel 0,5 mg

Trong quá trình sử dụng Caavirel 0,5 mg thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau:

Tóm tắt hồ sơ an toàn

  • Trong các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân có bệnh gan còn bù, cấc tác dụng không mong muốn thường gặp nhất bất kể mức độ nghiêm trọng và ít nhất có liên quan với entecavir là nhức đầu (9%), mệt mỏi (6%), chóng mặt (4%) và buồn nôn (3%). Đã có báo cáo về các đợt cấp của viêm gan trong và sau khi ngưng điều trị với entecavir.

Liệt kê phản ứng không mong muốn

  • Phản ứng không mong muốn được đánh giá dựa trên kinh nghiệm từ việc giám sát sau lưu hành và bốn nghiên cứu lâm sàng trong đó 1.720 bệnh nhân nhiễm viêm gan siêu vi B mạn tính và bệnh gan còn bù được điều trị mù đôi với entecavir (n = 862) hoặc lamivudin (n = 858) cho đến tuần 107. Trong những nghiên cứu này, hồ sơ an toàn, bao gổm cả bất thường xét nghiệm, được so sánh giữa entecavir 0,5 mg mỗi ngày (679 bệnh nhân chưa dùng nucleosid có HBeAg dương tính hoặc âm tính, điều trị trung bình trong 53 tuần), entecavir 1 mg mỗi ngày (183 bệnh nhân khấng lamivudin điều trị trung bình trong 69 tuần), và lamivudin.
  • Tác dụng không mong muốn được xem có thể ít nhất cớ liên quan đến việc diều trị với entecavir được liệt kẽ theo hệ cơ quan. Tần suất được xác định như sau: rất thường gặp (>1/10); thường gặp (>1/100 đến <1/10); ít gặp (>1/1.000 đến <1/100); hiếm gặp (>1/10.000 đến <1/1.000). Trong mỗi nhóm tần suất, tác dụng không mong muốn được thể hiện theo thứ tự mức độ giảm dần.

Rối loạn tâm thần:

  • Thường gặp: mất ngủ.

Rối loạn hệ thần kinh:

  • Thường gặp: đau đầu, chóng mặt, buồn ngủ.

Rối loạn gan mật:

  • Thường gặp: tăng transaminase.

Rối loạn da và mô dưới da:

  • Hiếm gặp: phát ban, rụng tóc

Rối loạn hệ thống miễn dịch:

  • Hiếm gặp: phản ứng phản vệ.

Rối loạn tiêu hóa:

  • Thường gặp: nôn mửa, tiêu chảy, buổn nôn, khó tiêu.

Rối loạn chung:

  • Thường gặp: mệt mỏi

Các trường hợp nhiễm toan lactic đã được báo cáo, thường liên quan với bệnh gan mất bù, tình trạng y khoa nghiêm trọng khác hoặc tiếp xúc thuốc.

Điều trị quá 48 tuần: tiếp tục điều trị với entecavir trong khoảng thời gian trung bình 96 tuần không phát hiện bất kỳ tín hiệu an toàn nào mới.

Mô tả các phản ứng không mong muốn được chọn lọc

  • Bất thường kết quả xét nghiệm: Trong các nghiên cứu lâm sàng vơi bệnh nhân chưa dùng nucleosid, có 5% bệnh nhân tăng ALT > 3 lần lúc ban đầu, và có < 1% bệnh nhân tăng ALT> 2 lẩn mức ban đầu cùng vơi bilirubin > 2 lần mức trên giới hạn bình thường (ULN) và > 2 lần mức ban đầu. Mức albumin < 2,5 g/dl xảy ra ở < 1% bệnh nhân, nóng độ amylase > 3 lần so với ban đầu ở 2% bệnh nhân, mức lipase > 3 lần so với ban đầu ở 11% bệnh nhân và tiểu cỉu < 50.000/mm3 ở < r/o bệnh nhân.
  • Trong các nghiên cứu lâm sàng với bệnh nhân kháng lamivudin, có 4% bệnh nhân tăng ALT > 3 lần ban đầu, và có < 1% tăng ALT > 2 lần mức ban đầu cùng với bilirubin > 2 lần ULN và > 2 lần mức ban đầu. Amylase > 3 lần mức ban đầu xày ra & 2% bệnh nhân, lipase > 3 lần so vơi mức ban đẩu ở 18% bệnh nhân và tiểu cẩu < 50.000/mm3 ở <1% bệnh nhân.

Bệnh trở nặng trong khi điều trị:

  • Trong nghiên cứu với những bệnh nhân chưa dùng nucleosid, trong khi điều trị ALT tăng cao > 10 lần ULN và > 2 lẩn mức ban đầu xảy ra ở 2% bệnh nhân được điều trị với entecavir so với 4% bệnh nhân được điều trị bằng lamivudin. Trong các nghiên cứu vơi bệnh nhân đề kháng lamivudin, trong khi điểu trị ALT tăng cao > 10 lần ULN và > 2 lần mức ban đầu xảy ra ở 2% bệnh nhân được điều trị với entecavir so với 11% bệnh nhân được điều trị bằng lamivudin. Trong số bệnh nhân dùng entecavir, tăng ALT trong khi điều trị có thời gian khởi phát trung binh từ 4-5 tuần, thường được giải quyết bằng cách tiếp tục điều trị, và phần lớn trường hợp trầm trọng thêm, có liên quan với giảm > 2 Iog10 / ml tải lượng virus trước hoặc cùng lúc vởi tăng cao ALT. Khuyến cáo theo dõi định kỳ chức năng gan trong điều trị.

Sự trầm trọng thêm của bệnh viêm gan sau khi ngưng điều trị:

  • Đợt cấp của viêm gan cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã ngưng điều trị viêm gan B, bao gồm cả điều trị với entecavir. Trong các nghiên cứu trên bệnh nhân chưa dùng nucleosid, có 6% bệnh nhân điều trị với entecavir và 10% bệnh nhân điều trị với lamivudin có ALT tăng cao (> 10 lần ULN và > 2 lần mức tham khảo tối thiều ban đầu hoặc lần đo cuối cùng khi điều trị) trong suốt quá trình theo dõi sau điều trị. Trong số bệnh nhân chưa dùng nucleoside trước đó được điều trị với entecavir, thời gian khởi phát tăng ALT trung bình là 23-24 tuần, và tăng ALT xảy ra ở 86% (24/28) bệnh nhân có HBeAg âm tính. Trong các nghiên cứu trên bệnh nhân kháng lamivudin, chỉ với số lượng hạn chế bệnh nhân đang được theo dõi, có 11% bệnh nhân dùng entecavir và không có bệnh nhân dược điểu trị với lamivudin tăng ALT trong quá trình theo dõi sau điều trị.
  • Trong các thử nghiệm lâm sàng, nên ngưng điều trị với entecavir nếu bệnh nhân đạt được đáp ứng như mong đợi. Nếu ngừng điều trị bất kể đáp ứng điều trị, tỷ lệ tăng ALT sau điều trị có thể cao hơn.

Bệnh nhi

  • Tính an toàn của entecavir ở bệnh nhi từ 2 đến <18 tuổi dựa trên hai thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra ở người bệnh viêm gan B mạn tính; một dược thử nghiệm dược động học giai đoạn 2 và một thử nghiệm giai đoạn 3. Những thử nghiệm này cung cấp kinh nghiệm ở 195 đối tượng có HBeAg dương tính chưa dùng nucleosid trước đó, được điểu trị vởi entecavir trung bình khoảng 99 tuần. Các phản ứng không mong muốn quan sát thấy ô các đối tượng trè em được diễu trị với entecavir phù hợp vôi những quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng cùa entecavir ở người lớn.

Các đối tượng đặc biệt khác

Kinh nghiệm ở những bệnh nhăn có bệnh gan mất bù:

  • Tính an toàn của entecavir ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù được đánh giá trong một nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên mở nhãn trong đó bệnh nhân được điều trị với entecavir liều 1mg/ngày (n = 102) hoặc adetovir dipivoxil 10 mg/ngày (n = 89). Ngoài các phản ứng không mong muốn chung, một trong những phản ứng bất lợi được thêm vào giảm trong bicarbonat máu (2%)] đã được quan sát thấy â những bệnh nhân dùng entecavir suốt 48 tuần. Tỷ lệ tử vong tích lũy trên nghiên cứu là 23% (23/102), và nguyên nhân tử vong thường có liên quan đến gan, như dã dự đoán ở nhóm dân số này. Tỷ lệ tích lũy ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) trên nghiên cứu là 12% (12/102). Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng thường cố liên quan đến gan, với tần số tích lũy trẽn nghiên cứu là 69%. Bệnh nhân cố số điểm CTP ban đầu cao cố nguy cơ cao phát triển các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng.

Bất thường kết quả xét nghiệm:

  • Trong số bệnh nhân bệnh gan mất bù điều trị với entecavir trong suốt 48 tuần, không có bệnh nhân nào tăng ALT > 10 lần ULN và > 2 lấn mức ban đầu, và có 1% bệnh nhân có ALT> 2 lần mức ban đẩu cùng với bilirubin > 2 lẩn ULN và > 2 lần mức ban đầu. Mức albumin < 2,5 g/dl xảy ra ô 30% bệnh nhân, mức lipase > 3 lần so với ban đầu ở 10% bệnh nhân và tiểu cầu < 50.000/mm3 ở 20% bệnh nhân.

Kinh nghiệm ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV:

  • Tính an toàn của entecavir ở một số lượng hạn chế bệnh nhân đồng nhiễm HBV/HIV trên phác đổ HAART (liệu pháp kháng virus hoạt tính cao) cổ chứa lamivudin tương tự như tính an toàn ở những bệnh nhân chỉ nhiễm HBV.

Giới tính tuổi:

  • Không có sự khác biệt rõ ràng trong hồ sơ an toàn của entecavir đối với giới tính (xấp xỉ 25% phụ nữ trong các thử nghiệm lâm sàng) hay tuổi (xấp xỉ 5% bệnh nhân > 65 tuổi).

Thông báo cho thầy thuốc tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Quá liều và cách xử trí

Chưa có báo cáo nào về việc dùng entecavir quá Hếu ở bệnh nhân, ở các đối tượng khỏe mạnh đã nhận entecavir liều đơn đến 40mg hay entecavir nhiều liều đến 20 mg/ngày trong hơn 14 ngày không bị gia tăng tỉ lệ xảy ra tai biến hay không có tai biến đột xuất nào. Nếu có trường hợp dùng thuốc quá liều, bệnh nhân phải được theo dõi xem có biểu hiện nào về sự nhiễm độc, và nếụ cần có thể áp dụng các biện pháp điếu trị hỗ trợ.

Sau khi dùng entecavir 1mg liều đơn, một cuộc thẩm tách máu trong vòng 4 giờ đã loại khoảng 13% entecavir.

Khi nào cần tham vấn bác sỹ

Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:

  • Có bất kỳ phản ứng không mong muốn nào xảy ra.
  • Trẻ em dùng thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sỹ.
  • Nếu bạn có thai hoặc đang cho con bú, tham vấn bác sỹ trước khi dùng thuốc.

Đặc tính dược lực học

Entecavir là một chất tương tự nucleosid guanosin có hoạt tính kháng HBV polymerase. Entecavlr được phosphoryl hóa thành dạng entecavir triphosphat có hoạt tính với thời gian bán thải trong tế bào là 15 giờ. Bằng cách cạnh tranh liên kết trực tiếp với chất nền tự nhiên deoxyguanosin triphosphat, entecavir triphosphat ức chế được cả 3 hoạt tính của polymerase HBV: (1) cung cấp các base, (2) sao chép ngược dây âm tính từ ARN thông tin trước gen, (3) tổng hợp dây dương tính của HBV ADN.

Entecavir triphosphat có hằng số chất ức chế (Ki) của đối với ADN polymerase của HBV là 0,012 pM. Entecavir triphosphat là chất ức chế yếu ADN polymerase a, B, 5 của tê’ bào với hằng số chất ức chế (Ki) trong khoảng 18-40 pM. Ngoài ra, sự tiếp xúc với entecavir ở mức độ cao không có các tác dụng không mong muốn liên quan trên polymerase hoặc tổng hợp ADN của ty lạp thể trong tế bào HepG2 (Ki> 160 mM).

Sự đề kháng trong tế bào nuôi cấy: So với các chủng HBV hoang dại, virus để kháng lamivudin có phần thay thế rtM204V và rtl_180M biểu hiện trong enzym phiên mã ngược giảm sự nhạy cảm với entecavir gấp 8 lần. Cấu trúc rtT184, rtS202 hoặc rtM25Ũ thay đổi kết hợp thêm acid amin đề kháng entecavir làm giảm nhạy cảm với entecavir trong tế bào nuôi cấy. Sự thay thế được quan sát trên các chủng phân lập lâm sàng (rtT184A, c, F, G, I, L, M, S; rtS202 c, G hoặc I; và / hoặc rtM250l, L hoặc V), cho thấy sự nhạy cảm vơi entecavir giảm thêm 16 đến 741 lấn, so với chủng virus thể hoang dại. Những thay thế dề kháng entecavir riêng rẻ trên rtT184, rtS202 và rtM250 chỉ có tác dụng khiêm tốn trên sự nhạy cảm với entecavir, và không được quan sát thấy trong trường hợp không có thay đổi đề kháng lamivudin tại hơn 1000 mẫu bệnh nhân. Đề kháng qua trung gian làm giảm ức chế liên kết với enzym phiên mã ngược HBV đã thay đổi, và HBV đề kháng biểu hiện giảm khả năng phân chia trong nuôi cấy tế bào.

Đề kháng trên lâm sàng ở người lớn

Bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng được điều trị khởi đầu với entecavir 0,5 mg (bệnh nhân chưa dùng nucleosid) hoặc 1,0 mg (bệnh nhân kháng lamivudin), được theo dõi sự kháng thuốc trong khi điều trị tại hoặc sau tuần thứ 24 với cùng một phép đo PCR HBV DNA.

Ở các nghiên cứu với bệnh nhân chưa dùng nucleosid, qua tuần thứ 240, đã xác định được những bằng chứng về sự thay thế đé kháng entecavir tại rtT184, rtS202 hoặc rtM250 trên kiểu gen, ở 3 bệnh nhân được điều trị với entecavir, 2 trong số họ đã gặp đột biến virus kháng thuốc (xem bảng). Những thay thế được quan sát thấy chỉ hiện diện trong của sự thay thế đề kháng lamivudin (rtM204V và I1L180M).

Phát triển kiểu gen đề kháng Entecavir qua năm thứ 5, nghiên cứu bệnh nhân chưa dùng nucleosid
Năm 1Năm 2Năm 3’Năm 4aNăm 5a
Bệnh nhân được điểu trị và theo dõi sự đề khángb663278149121108
Bệnh nhân trong năm xác định với:

Phát triển kiểu gen đề kháng entecavirc

  • Kiểu gen đề kháng entecavirc với đột biến virus kháng thuốc d
1

1

1

0

1

1

0

0

0

0

Xác suất tích lũy của:

Phát triển kiểu gen đề kháng entecavirc

  • Kiểu gen đề kháng entecavirc với đột biến virus kháng thuốc11
0,2%

0,2%

0,5%

0,2%

1,2%

0,8%

1,2%

0,8%

1,2%

0,8%

Kết quả phản ánh việc sử dụng liều 1 mg entecavir cho 147 trong 149 bệnh nhân ở năm thứ 3 và tất cả cấc bệnh nhẵn trong năm thứ 4 và thứ 5, và điều trị phối hợp entecavir – lamivudin (sau điều trị entecavir dài hạn) trung bình 20 tuần cho 130 trong 149 bệnh nhân ở năm thứ 3 và khoảng 1 tuần cho 1 trong 121 bệnh nhân trong năm thứ 4 trong một nghiên cứu lặp lại.

11 Bao gồm những bệnh nhân có ít nhất một lần đo HBV DNA bằng PCR trong điều trị tại hoặc sau tuần 24 đến tuần 58 (năm 1), sau tuần 58 đến tuần 102 (năm 2), sau tuần 102 đến tuần 156 (năm 3), sau tuẩn 156 đến tuần 204 (năm 4), hoặc sau tuần 204 đến tuần 252 (năm 5).

c Những bệnh nhẫn có thêm thay thế đề kháng lamivudin.

” Tăng > 1 log™ nadir (trị thấp nhất) trong đo HBV DNA bằng PCR, xác nhận với các phép đo liên tiếp hoặc ở cuối thời điểm cửa sổ.

Sự thay thế đề kháng entecavir (ngoài thay thế để kháng lamivudin rtM2Ũ4V/l ± rtL180M) được quan sát dựa trên các chủng phân lập từ 10/187 (5%) bệnh nhân đề kháng lamivudin được điều trị với entecavir và theo dõi sự đề kháng, cho thấy rằng điều trị trước đó với lamivudin có thể chọn lọc những thay thế đễ kháng này và chúng có thể tổn tại ở một tần số thấp trước khi điểu trị với entecavir. Cho đến tuần 240, 3 trong sô’ 10 bệnh nhân có đột biến virus kháng thuốc (táng > 1 logic nadir (trị thấp nhất)). Sự kháng entecavir trong các nghiên cứu bệnh nhân đề kháng lamivudin đến tuần 240 dược tóm tắt trong bảng sau.

Kiểu gen đề kháng entecavir đến năm thứ 5, cấc nghiên cứu ở bệnh nhân đề kháng lamivudin.
Năm 1Năm 2Nẫm 3aNăm 4’Năm 5“
Bệnh nhân được điều trị và theo dõi sự đề khángb187146805233
Bệnh nhân trong năm xác định với: Phất triển kiểu gen đề kháng entecavirc11121662
Kiểu gen để kháng entecavir’ với đột biến virus kháng thuốcd2″14“13’9′1“
Xác suất tích lũy của:

Phát triển kiểu gen đề kháng entecavirc

6,2%15%36,3%46,6%51,45%
Kiểu gen đề kháng entecavirc với đột biến virus kháng thuốcd1,1 %’10,7% “27% ’41,3% “43,6% ‘

Kết quả phản ánh việc sử dụng điều trị phối hợp entecavir – lamivudin (sau điều trị entecavir dài hạn) trung binh 13 tuẩn cho 48 trong 80 bệnh nhân ô năm thứ 3, trung bình 38 tuần cho 10 trong 52 bệnh nhân trong năm thứ 4, và 16 tuẩn cho 1 trong 33 bệnh nhân trong năm thứ 5 trong một nghiên cứu lặp lại.

b Bao gồm những bênh nhân có ít nhất một lẩn đo HBV DNA bằng PCR trong điểu trị tại hoặc sau tuần 24 đến tuần 58 (năm 1), sau tuần 58 đến tuần 102 (năm 2), sau tuẩn 102 đến tuần 156 (năm 3), sau tuần 156 đến tuẩn 204 (năm 4), hoặc sau tuần 204 đến tuần 252 (năm 5).

‘ Những bệnh nhân có thêm thay thế để kháng lamivudin.

d Tâng > 1 log-10 nadir (trị thấp nhất) trong đo HBV DNA bằng PCR, xác nhận với cấc phép đo liên tiếp hoặc ồ cuối thời điểm cửa sổ.

‘Đề kháng entecavir xảy ra trong bất kỳ năm nào; đột biến virus kháng thuốc trong năm xác định.

Trong số các bệnh nhân đề kháng lamivudin với đường nền HBV DNA < 1 o7 log10 bản sao/ml 64% (9/14) đạt HBV DNA < 300 bản sao/ml ở tuần 48. 14 bênh nhân này có tỷ lệ thấp hơn của kiểu gen kháng entecavir (xác suất tích lũy 18,8% qua 5 nỉm liên tiếp) Sũ với dân số nghiên cứu tổng thể (xem bảng). Ngoài ra, bệnh nhẵn đế kháng lamivudin đạt HBV DNA <104 log™ bản sao/ml bằng PCR ô tuần 24 có tỷ lệ đề kháng thấp hơn so với nhóm không đạt (xác suất tích lũy 5 năm tương ứng 17,6% [n = 50] so vơi 60,5% [n = 135]).

Đặc tính dược động học

Entecavir liều đơn và nhiều liều đã được đánh giá về mặt duợc động học ở những đối tượng khỏe mạnh và những bệnh nhân bị nhiễm viêm gan B mạn tính.

Hấp thu: Nồng độ entecavir trong huyết tương của những đối tượng khỏe mạnh đạt mức tối đa sau khi uống thuốc khoảng 0,5 đến 1,5 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối chưa được xác định. Dựa vào lượng thuốc không chuyển hóa được bài tiết trong nước tiểu, sinh khả dụng được ước tính ít nhất 70%. Khi dùng liều từ 0,1 đến 1,0 mg, Cmax và diện tích dúỡi đường cong (AUG) gia tăng tỷ lệ thuận với liều lượng đã dùng. Trạng thái ổn định đạt được sau 6 đến 10 ngày dùng thuốc một lẩn mỗi ngày với độ tích lũy gấp đôi. Với liều uống 0,5 mg, Cmax ở trạng thái ổn định là 4,2 ng/ml và nổng độ thấp nhất trong huyết tương là 0,3 ng/ml.

Ở những bệnh nhân khỏe mạnh, có sự tương đương sinh học giữa dạng viên nén và dạng dung dịch uống. Dung dịch uống và dạng viên có thể thay thế cho nhau.

Tác động của thức ăn đối với sự hấp thu qua đường uống: cho uống 0,5 mg entecavir cùng với một bữa ỉn bình thường có độ béo cao (945 kilocalori, 54,6 g chất béo) hoặc một bữa ăn nhẹ (379 kilocalori, 8,2 g chất béo) dẫn đến kết quả làm chậm sự hấp thu (1,0 – 1,5 giờ khi bụng no so với 0,75 khi bụng đói) làm giảm Cmax 44% – 46% và AUG 18% – 20%. Do đó, entecavir nẽn dùng khi bao tử trống (ít nhất là 2 giờ sau khi ăn và 2 giờ trước bữa ăn kế tiếp). Cmax và AUC thấp hơn khi dùng cùng với thức ăn được xem là không liên quan về mặt lâm sàng ở bệnh nhân chưa dùng nucleosid, nhưng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đã kháng lamivudin.

Phân phối: Dựa vào bản phân tích dược động học của entacavir sau một liều uống, thể tích phân bố biểu kiến được ước tính là nhiều hơn tổng lượng nước trong cơ thể, có nghĩa là entecavir đựơc phân bố vào mô rất nhiều.

In vitro, khoảng 13% entecavir gắn kết protein huyết thanh của người.

Chuyển hóa và thải trừ: Không thấy chất chuyển hóa bj oxy hóa hay acetyl hóa nào trong người hay chuột cống sau khi uống 14C-entecavir.

Các số lượng nhỏ chất chuyển hóa giai đoạn II (các chất liên hợp glucuronide và sultat) đã được quan sát thấy.

Sau khi đã đạt nồng độ đỉnh, nồng độ entecavir trong huyết tương giảm theo hàm số mũ với thời gian bán thải cuối cùng là khoảng 128 – 149 giờ. Thời gian bấn hủy tích lũy thực sự là khoảng 24 giở.

Entecavir dược đào thải chủ yếu qua thận, số lượng thuốc không chuyển hóa thu hổi trong nước tiểu ô trạng thái ổn định là từ 62% đến 73% liều được dùng. Độ thanh lọc thận không tùy thuộc vào liéu được dùng và dao động từ 360 – 471 mưphũt, có nghĩa là entecavir được lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận.

Các đối tượng đặc biệt

Suy chức năng gan: Các thông số dược động học ở những bệnh nhẵn suy gan vừa hoặc nặng tương tự như những bệnh nhân có chức năng gan bình thường.

Suy chức năng thận: Độ thanh thải của entecavir giảm cùng với sự giảm độ thanh thải creatinin. Xấp xỉ 13% liểu entecavir bị loại bỏ sau 4 giơ thẩm tách mấu, và 0,3% liều entecavir bị loại bỏ bởi thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú. Dược động học của entecavir sau khi uống một liểu duy nhất 1 mg ở bệnh nhân (khõng bị nhiêm viêm gan B mạn tính) được trình bày ở bảng sau:

Độ thanh lọc creatinin ban đẩu (ml/phút)
Không suy thận

> 80 (n=6)

Suy thận nhẹ

> 50 – < 80

(n=6)

Suy thận vừa

30-50 (n=6)

Suy thận nặng

< 30 (n=6)

Bệnh nhân nặng và thẩm phân máu (n=6)Bệnh nhân nặng và đang thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú (CAŨP) (n=4)
Cmax (ng/mL) (CV %)8,1

(30,7)

10,4

(37,2)

10,5

(22,7)

15,3

(33,8)

15,4

(56,4)

16,6

J2V)

AUC (O-T) (ng*h/mL) (CV)27,9

(25,6)

51,5

(22,8)

69,5

(22,7)

145,7

(31,5)

233,9

(28,4)

221,8

(11,6)

CRL (mưphút) (SD)383,2

(101,8)

197,9

(78,1)

135,6

(31,6)

40,3

(10,1)

Không áp dụngKhông áp dụng
CLT/F (mưphút) (SD)588,1

(153,7)

309,2

(62,6)

226,3

(60,1)

100,6

(29,1)

50,6

(16,5)

35,7

(19,6)

Sau khi ghép gan: Bệnh nhân được ghép gan bị nhiễm virus HBV và được cho dùng một liều ổn định cycloporin A hoặc tacrolimus (n = 9), mức phơi nhiễm entecavir của những bệnh nhân này xấp xl gấp đôi mức phơi nhiễm ở cấc đối tượng khỏe mạnh cố chức năng thận bình thường. Chức năng thận bị biến đổi đã góp phần vào việc gia tăng mức phơi nhiễm entecavir ở các bệnh nhân này.

Giới tính: Sự phơi nhiễm vởi entecavir ơ nam và nữ không có sự khác biệt đáng kể.

Người lởn tuổi: Ảnh hưởng của tuổi trên dược động học của entecavir được đánh giá so sánh giữa những người tinh nguyện trong khoảng 65-83 tuổi (tuổi trung bình đối vơi nữ là 69, nam là 74) với ngươi tình nguyện trong khoảng 20-40 tuổi (tuổi trung bình đối với nữ là 29, nam là 25). AUC ở người lớn tuổi cao hơn 29% so vơi người trẻ, chủ yếu là do sự khác biệt về chức năng thận và cân nặng. Sau khi điều chỉnh những khác biệt vể độ thanh thải creatinin và trọng lượng cơ thể, AUC người lớn tuổi vẫn cao hơn 12,5% so vơi người trẻ. Phân tích dược động học ở những bệnh nhân trong khoảng 16-75 tuổi đã xác định tuổi không ảnh hưởng đáng kể đến dược động entecavir.

Chủng tộc: Phân tích dược động học đã xác định chủng tộc không ảnh hương đáng kể đến dược động entecavir. Tuy nhiên, kết luận chỉ có thể được rút ra cho nhóm người da trắng và châu Á vì có quá ít người tình nguyện thuộc các nhóm chủng tộc khác.

Trẻ em: Trạng thái dược động học ổn định của entecavir được đánh giá ô 24 trẻ em chua dùng nucleosid và 19 trẻ em có HBeAg dương tính trong khoảng từ 2 đến < 18 tuổi có bệnh gan còn bù đã có kinh nghiệm sử dụng lamivudin. Mức tiếp xúc với entecavir ở trẻ em chưa dùng nucleosid nhận liều entecavir 0,015 mg/kg đến liều tối đa là 0,5 mg, mỗi ngày một lần tương tự như mức tiếp xúc đạt được ở người lớn dùng liều 0,5 mg, mỗi ngày một lần. Cmax, AUC (0-24), và Cmin  đối tượng này tương ứng là 6,31 ng/ml, 18,33 ng*h/ ml, và 0,28 ng/ml. Mức tiếp xúc với entecavir & trẻ em đã có kinh nghiệm sử dụng lamivudin dùng liều entecavir 0,030 mg/kg đến liều tối đa 1,0 mg, mỗi ngày một lẩn tương tự như mức tiếp xúc đạt được ở ngươi lớn dùng liểu 1,0 mg, mỗi ngày một lẩn. Cmax, AUC (0-24), và Cmin ờ đối tượng này tương ứng là 14.48 ng/ml, 38,58 ng*h/ml và 0,47 ng/ml.

Các dấu hiệu lưu ý và khuyến cáo khi dùng Thuốc Caavirel 0,5 mg

  • Không nên dùng Thuốc Caavirel 0,5 mg quá hạn (có ghi rõ trên nhãn) hay khi có sự nghi ngờ về chất lượng thuốc.
  • Thuốc này chỉ dùng theo đơn của Bác sĩ.
  • Nếu cần thêm thông tin, hãy hỏi ý kiến Bác sĩ hoặc dược sĩ.
  • Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
  • Để thuốc xa tầm tay trẻ em.

Mô tả Thuốc Caavirel 0,5 mg

Thuốc Caavirel 0,5 mg được bào chế dưới dạng viên nén bao phim, bao bên ngoài là hộp giấy cartone màu trắng + xanh, tên sản phẩm màu đen, phía dưới in thành phần dược chất chính, phía dưới góc tay trái in logo Pymepharco. 2 bên in thành phần, cách bảo quản, công ty sản xuất, hạn sử dụng sản phẩm.

Lý do nên mua Thuốc Caavirel 0,5 mg tại nhà thuốc

  1. Cam kết sản chính hãng.
  2. Ngày sản xuất mới, hàng cam kết chất lượng.
  3. Hoàn tiền 100% nếu hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái.
  4. Giao hàng tận nơi, nhận hàng rồi mới thanh toán (COD).
  5. Được dược sỹ tư vấn miễn phí trong quá trình sử dụng để đạt hiệu quả tốt nhất.
  6. Đổi trả hàng trong 10 ngày nếu giao hàng không đúng như thông tin sản phẩm.
  7. Sản phẩm đều có giấy chứng nhận, hóa đơn đỏ.

Hướng dẫn bảo quản

Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.

Thời hạn sử dụng Thuốc Caavirel 0,5 mg

36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.

Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.

Quy cách đóng gói sản phẩm

Hộp 3 vỉ x 10 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.

Dạng bào chế: Viên nén bao phim.

Thuốc Caavirel 0,5 mg mua ở đâu

Thuốc Caavirel 0,5 mg có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.

Đơn vị chia sẻ thông tin

  • Nhà thuốc THÂN THIỆN
  • Hotline: 0916893886
  • Website: nhathuocthanthien.com.vn
  • Địa chỉ CS1: Số 10 ngõ 68/39 đường Cầu Giấy, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
  • Địa chỉ CS2: Số 30, đường Vạn Xuân, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội

Thuốc Caavirel 0,5 mg giá bao nhiêu

Thuốc Caavirel 0,5 mg có giá bán trên thị trường hiện nay là: 3.100đ/ hộp 30 viên. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.

Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.

Giấy phép xác nhận từ Bộ Y Tế

Số đăng ký lưu hành: VD-28290-17

Đơn vị sản xuất và thương mại

Công ty cổ phần Pymepharco

Địa chỉ: 166 – 170 Nguyễn Huệ, Tuy Hòa, Phú Yên, Việt Nam

Xuất xứ

Việt Nam.


Bài viết này có hữu ích với bạn không?

Có hữu ích Không hữu ích

Nếu có câu hỏi nào thêm, bạn có thể để lại thông tin để nhận tư vấn của chúng tôi.


Đánh giá Caavirel 0,5 điều trị bệnh nhiễm virut viêm gan B mạn tính
Chưa có
đánh giá nào
5 0% | 0 đánh giá
4 0% | 0 đánh giá
3 0% | 0 đánh giá
2 0% | 0 đánh giá
1 0% | 0 đánh giá
Đánh giá Caavirel 0,5 điều trị bệnh nhiễm virut viêm gan B mạn tính
Gửi ảnh thực tế
0 ký tự (Tối thiểu 10)
    +

    Chưa có đánh giá nào.

    Hỏi đáp

    Không có bình luận nào

    Sản phẩm cùng thương hiệu

    Thân thiện cam kết
    Thân thiện cam kết
    Miễn phí vận chuyển
    Miễn phí vận chuyển
    Giao nhanh 2 giờ
    Giao nhanh 2 giờ
    Đổi trả 30 ngày
    Đổi trả 30 ngày
    Sản phẩm này chỉ được sử dụng khi có chỉ định của Bác sĩ. Thông tin mô tả tại đây chỉ có tính chất tham khảo. Vui lòng xác nhận bạn là Dược sĩ, Bác sĩ & nhân viên y tế có nhu cầu tìm hiểu về sản phẩm.

    Không hiển thị thông báo này lần sau.

    Mua theo đơn 0916 893 886 Messenger Chat Zalo