Thông tin từ: 
Đây là dữ liệu cấp số đăng ký lưu hành gốc theo các quyết định cấp số đăng ký (SĐK) lưu hành (chưa bao gồm các dữ liệu đã được đính chính, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy ĐKLH trong quá trình lưu hành)
| Số giấy phép lưu hành (GPLH) |
|
|---|---|
| Ngày hết hạn SĐK |
|
| Tên thuốc |
|
| Thông tin hồ sơ gia hạn |
|
| Hoạt chất |
|
| Hàm lượng |
|
| Số quyết định |
|
| Năm cấp |
|
| Đợt cấp |
|
| Dạng bào chế |
|
| Quy cách đóng gói |
|
| Tiêu chuẩn |
|
| Tuổi thọ |
|
| Thông tin công ty đăng ký |
|
| Thông tin công ty sản xuất |
|
| Tài liệu công bố thay đổi bổ sung |
Sao chép số giấy phép lưu hành (GPLH) từ bảng thông tin trên, sau đó vào website Dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế:

Số đăng ký là mã do Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành cho từng loại thuốc. Số đăng ký là dãy số đứng sau chữ SĐK - các mã thường bắt đầu bằng:
Kiểm tra đầy đủ, đối chiếu các thông tin dựa trên kết quả được tìm kiếm.

Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | USA |
| Quy cách | Hộp 3 vỉ x 10 viên |
| Thương hiệu | AstraZeneca |
| Chuyên mục | Thần kinh não |
| Số đăng ký |
VN-22285-19
|
| Nhà sản xuất | AstraZeneca Pharmaceuticals LP |
| Hoạt chất | Quetiapin (dưới dạng Quetiapin fumarat) 50mg |
Thuốc Seroquel XR 50mg có nguồn gốc, xuất xứ từ Mỹ và được nhập khẩu trực tiếp về Việt Nam. Được cấp phép bởi cục quản lý dược – Bộ Y tế. Thuốc có tác dụng dùng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt, điều trị rối loạn lưỡng cực, điều trị rối loạn lo âu toàn thể, …
Nội dung chính
Seroquel XR 50mg được chỉ định điều trị
Điều trị bênh tâm thần phân liệt
Điều trị rối loạn lưỡng cực
- Điều trị các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong rối loạn lưỡng cực.
- Điều trị các cơn trầm cảm lớn trong rối loạn lưỡng cực.
- Ngăn ngừa sự tái phát các cơn hưng cảm hoặc trầm cảm ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực đã đáp ứng trước đó với trị liệu quetiapin.
Điều trị bổ sung các cơn trầm cảm lớn ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu (MDD) chưa đáp ứng tốt với thuốc chống trầm cảm đơn trị liệu (xem phần “Đặc tính dược lực học”). Bác sĩ lâm sàng nên xem xét dữ liệu an toàn của thuốc Seroquel XR trước khi bắt đầu điều trị (xem phần “Lưu ý đặc biệt và thận trọng khi sử dụng”).
Điều trị rối loạn lo âu toàn thể (GAD).
Sản phẩm đã được Cục Dược – Bộ Y tế cấp phép dưới dạng thuốc kê đơn, chỉ bán theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.
Thuốc Seroquel XR 50mg bao gồm những thành phần chính như là
Thành phần hoạt chất:
Mỗi viên SEROQUEL XR 50mg chứa 50mg quetiapin (dạng quetiapin fumarat).
Thành phần tá dược:
Mỗi viên SEROQUEL XR 50mg chứa 119mg lactose (khan).
Nhân viên: Cellulose vi tinh thể; natri citrat; lactose monohydrat; magnesi stearat; hypromellose 2280.
Bao viên: Hypromellose 2910; macrogol (polyethylen glycol 400); titan dioxyd(E171); oxyd sắt vàng (E172) (viên nén 50mg, 200mg, 300mg); oxyd sắt đỏ (E172) (viên nén 50mg).
Thuốc Seroquel XR 50mg cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng.
Có các chế độ liều dùng khác nhau cho mỗi chỉ định. Do đó phải đảm bảo bệnh nhân được thông tin rõ ràng về liều dùng thích hợp cho tình trạng của mình.
Seroquel XR được chỉ định liều 1 lần trong ngày, không uống thuốc kèm với thức ăn (tối thiểu dùng thuốc 1 giờ trước bữa ăn). Nên nuốt nguyên viên thuốc, không được bẻ đôi, nhai hay nghiền.
Người lớn:
Điều trị tâm thần phân liệt và các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong rối loạn lưỡng cực
Điều trị các cơn trầm cảm lớn trong rối loạn lưỡng cực
Ngăn ngừa tái phát rối loạn lưỡng cực
Điều trị hỗ trợ các cơn trầm cảm lớn trong rối loạn trầm cảm chủ yếu
Điều trị rối loạn lo âu toàn thể
Chuyển từ Seroquel dạng viên nén phóng thích nhanh:
Người cao tuổi:
Trẻ em:
Suy thận:
Suy gan:
Trong quá trình sử dụng Thuốc Seroquel XR 50mg, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:
Vì Seroquel XR có một vài chỉ định, dữ liệu an toàn nên được xem xét tùy theo chẩn đoán trên từng bệnh nhân và liều đang sử dụng.
Hiệu quả và tính an toàn dài hạn ở bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm chủ yếu chưa được đánh giá trong điều trị hỗ trợ, tuy nhiên hiệu quả và tính an toàn dài hạn đã được đánh giá trên bệnh nhân người lớn trong đơn trị liệu (xem phần “Đặc tính dược lực học”).
Trẻ em
Tự tử/ có ý nghĩ tự tử hoặc tình trạng lâm sàng xấu đi
Nguy cơ chuyển hóa
Triệu chứng ngoại tháp
Buồn ngủ và chóng mặt
Co giật
Hạ huyết áp thế đứng
Rối loạn vân động muộn (tardive dyskinesia)
Hội chứng ngưng thở khi ngủ
Tác dung ức chế đối giao cảm (muscarinic)
Hội chứng ác tính do thuốc an thần
Giảm bạch cầu trung tính và bach cầu hạt trầm trọng
Tương tác thuốc
Cân nặng
Tăng glucose huyết
Kéo dài khoảng QT
Khó nuốt
Bệnh cơ tim và viêm cơ tim
Lipid
Hội chứng cai thuốc
Táo bón và tắc ruột
Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối (VTE)
Viêm tụy
Thông tin bổ sung
Lactose
Dùng sai và lạm dụng thuốc
Phụ nữ có thai
Ba tháng đầu thai kỳ
Một số vừa phải dữ liệu được công bố từ việc sử dụng thuốc trên phụ nữ có thai (trong khoảng 300-1000 phụ nữ có thai) bao gồm các báo cáo riêng lẻ và một số nghiên cứu quan sát đều không gợi ý việc tăng nguy cơ dị tật do điều trị. Tuy nhiên, không thể đưa ra một kết luận khẳng định dựa trên tất cả dữ liệu sẵn có. Độc tính trên sinh sản được ghi nhận trong các nghiên cứu trên động vật. Vì vậy, chỉ nên sử dụng quetiapin trong thai kỳ khi lợi ích vượt trội các nguy cơ có thể xảy ra.
Ba tháng cuối thai kỳ
Trẻ sơ sinh đã tiếp xúc với thuốc chống loạn thần (bao gồm quetiapin) trong 3 tháng cuối của thai kỳ có nguy cơ gặp các phản ứng ngoại ý bao gồm rối loạn ngoại tháp và/ hoặc hội chứng cai thuốc ở các mức độ và thời gian khác nhau sau khi sinh. Kích động, tăng trương lực cơ, giảm trương lực cơ, run, buồn ngủ, suy hô hấp hoặc rối loạn ăn uống đã được ghi nhận. Do đó, nên theo dõi trẻ sơ sinh cẩn thận.
Cho con bú
Theo dữ liệu rất hạn chế từ các báo cáo về bài tiết quetiapin vào sữa mẹ đã được công bố, bài tiết quetiapin ở các liều điều trị dường như không nhất quán. Do thiếu nguồn dữ liệu, việc quyết định ngưng cho con bú hay ngưng dùng Seroquel XR nên được cân nhắc dựa trên lợi ích của việc cho con bú và việc điều trị ở người mẹ.
Khả năng sinh sản
Chưa đánh giá được ảnh hưởng của quetiapin trên khả năng sinh sản của người. Sự tăng nồng độ prolactin đã được ghi nhận ở chuột, mặc dù không có liên quan trực tiếp đến con người.
Do tác động chủ yếu lên hệ thần kinh trung ương, quetiapin có thể ảnh hưởng đến các hoạt động cần tỉnh táo tinh thần. Vì vậy, cần khuyên bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy cho đến khi xác định rõ sự nhạy cảm với thuốc của bản thân.
Trong quá trình sử dụng Seroquel XR 50mg thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau:
Các phản ứng ngoại ý của thuốc (ADR) thường gặp nhất với quetiapin (>10%) là buồn ngủ, chỏng mặt, nhức đầu, khô miệng, hội chứng cai thuốc, tăng nồng độ triglycerid huyết thanh, tăng cholesterol toàn phần (chủ yếu LDL cholesterol), giảm HDL cholesterol, tăng cân, giảm hemoglobin và triệu chứng ngoại tháp.
Tần suất của các ADR liên quan đến trị liệu với quetiapin được trình bày trong bảng dưới đây (Bảng 1) theo khuyến cáo chính thức của Hội đồng Các Tổ chức Quốc tế về Khoa học Y học (CIOMS III Working Group; 1995).
Bảng 1 Các ADR liên quan đến liệu pháp quetiapin
Tần suất các biến cố ngoại ý được phân cấp như sau: rất thường gặp (£1/10), thường gặp (>1/100, <1/10), ít gập (£1/1 uuũ, <1/1ũũ), niêm gặp (£1/10.000, <1/1000) và rất hiếm gặp (<1/10.000), và chưa rõ (không thể dự đoán từ dữ liệu sẵn có).
| Hệ cơ quan | Rất thường gặp | Thường gặp | ít gặp | Hiếm gặp | Rất hiếm gặp | Chưa rõ |
| Rối loạn hệ máu và bạch huyết | Giảm hemoglobin22 | Giảm bạch cầu1’28, giảm số lượng bạch cầu trung tính, tăng bạch cầu ái toan27 | Giảm bạch cầu trung tính1, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm số lượng tiểu cầu13 | Mất bạch cầu hạt26 | ||
| Rối loạn hệ miễn dịch | Quá mẫn (bao gồm các phản ứng dị ứng da) | Phản ứng phản vệ5 | ||||
| Rối loạn nội tiết | Tăng nồng độ prolactin máu15, giảm T4 toàn phần24, giảm T4 tự do 24, giảm T3 toàn phần24, tăng
TSH 24 |
Giảm T3 tự do 24, suy giảm chức năng tuyến giáp 21 | Tăng tiết hormon kháng lợi niệu không thích hợp | |||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Tăng nồng độ triglycerid huyết thanh10‘30, tăng cholesterol toàn phần (chủ yếu là LDL cholesterol)11‘30, giảm HDL cholesterol17’30, tăng cân 8 30 | Tăng cảm giác thèm ăn, tăng đường huyết đến mức bệnh |ý6,30 | Giảm natri huyết19, đái tháo đường1‘5, làm nặng hơn tình trạng đái tháo đường hiện có | Hội chứng chuyển hóa29 |
| Rối loạn tâm thần | Mơ bất thường và ác mộng Có ý nghĩ tự tử hoặc hành vi tự tử20 | Mộng du vả các phản ứng liên quan như nói chuyện trong khi ngủ và rối loạn ăn uống có liên quan đến giấc ngủ | ||||
| Rối loạn hệ thần kinh | Chóng mặt4’16, buồn ngủ2’16, nhức đầu, triệu chứng ngoại thap1^1 | Loạn vận ngôn | Co giật1, hội chứng chồn chân (chân không yên), rối loạn vận động muộn1’6, ngất4’16 | |||
| Rối loạn tim | Nhịp tim nhanh4, hồi hộp24 | Kéo dài khoảng QT1’12‘18, nhịp tim chậm32 | ||||
| Rối loạn mắt | Nhìn mờ | |||||
| Rối loạn mạch | Hạ huyết áp thế đứng4’16 | Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối 1 | ||||
| Rối loạn hô hấp, phổi và trung thất | Khó thở 23 | Viêm mũi | ||||
| Rối loạn tiêu hóa | Khô miệng | Táo bón, khó tiêu, nôn 25 | Khó nuốt7 | Viêm tụy1, tắc ruột | ||
| Rối loạn gan-mật | Tăng alanin aminotransferase huyết thanh (ALT)3, tăng gamma-GT3 | Tăng aspartate aminotransferase huyết thanh (AST)3 | Vàng da5, viêm gan | |||
| Rối loạn da và mô dưới da | Phù mạch5, hội chứng Stevens- Johnson5 | Hoại tử thượng bì nhiễm độc, hồng ban đa dạng | ||||
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | Ly giải cơ vân |
| Rói loạn thận và tiết niệu | Bí tiểu | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tình trạng trong thai kỳ, sản kỳ và chu sanh | Hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh 31 | |||||
| Rối loạn hệ sinh sản và vú | Rối loạn chức năng tình dục | Cương dương, chứng tiết sữa, sưng vú, rối loạn kinh nguyệt | ||||
| Các rối loạn tổng quát và tình trạng tại vị trí sử dụng | Hội chứng cai thuốc1‘9 | Suy nhược nhẹ, phù ngoại biên, kích thích, sốt | Hội chứng ác tính do thuốc an thần1, giảm thân nhiệt | |||
| Các chỉ số xét nghiêm | Tăng creatin phosphoki nase máu14 |
Những trường hợp kéo dài khoảng QT, loạn nhịp thất, đột tử không rõ nguyên nhân, ngưng tim và hiện tượng xoắn đỉnh được ghi nhận khi sử dụng thuốc an thần và được xem như là tác dụng theo nhóm (class effects).
Trẻ em
Các phản ứng ngoại ý ở người lớn nêu trên nên được xem xét ở trẻ em và trẻ vị thành niên. Bảng bên dưới tóm tắt các phản ứng ngoại ý xảy ra với tần suất cao hơn ở trẻ em và trẻ vị thành niên (10-17 tuổi) so với ở người lớn hoặc các phản ứng ngoại ý không xảy ra ở người lớn.
Bảng 2. Các biến cố ngoại ý (ADRs) ở trẻ em và trẻ vị thành niên có liên quan với việc điều trị quetiapỉn xảy ra với tân xuất cao hơn trên người lớn hoặc không xác định ở người lớn.
Tần suất các biến cổ ngoại ý được phân cấp như sau: rất thường gặp (>1/10), thường gặp (>1/100, <1/10), ít gặp (>1/1000, <1/100), hiếm gặp (>1/10.000, <1/1000) và rất hiếm gặp (<1/10.000).
| Hệ cơ quan | Rất thường gặp | Thường gặp |
| Rối loạn nội tiết | Tăng nồng độ prolactin1 | |
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Tăng cảm giác thèm ăn | |
| Rói loạn hệ thần kinh | Triệu chứng ngoại tháp3 4 | Ngất |
| Rối loạn mạch máu | Táng huyết áp2 | |
| Rối loạn hô hấp, lồng ngực, trung thất | Viêm mũi | |
| Rối loạn tiêu hóa | Nôn | |
| Các rói loạn tổng quát và tình trạng tại chỗ | Kích thích3 |
Triệu chứng
Nhìn chung, các dấu hiệu và triệu chứng được ghi nhận là do tăng tác động dược lý của hoạt chất, như ngày ngật và an thần, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và tác dụng ức chế đối giao cảm.
Quá liều có thế dẫn đến: kéo dài khoảng QT, co giật, động kinh liên tục, ly giải cơ vân, suy hô hấp, bí tiểu, lú lẫn, mê sảng và/ hoặc kích động, hôn mê và tử vong. Bệnh nhân đã mắc bệnh tim mạch nặng trước đây có thể tăng nguy cơ có các tác động do quá liều. (Xem “Lưu ý đặc biệt và thận trọng khi sử dụng, “Hạ huyết áp thế đứng”)
Xử trí quá liều
Chưa có chất giải độc đặc hiệu cho quetiapin. Trong trường hợp nhiễm độc nặng, cần xem xét đến khả năng do ảnh hưởng của nhiều thuốc, tiến hành các biện pháp săn sóc đặc biệt, bao gồm thiết lập và duy trì đường thở, đảm bảo thông khí và cung cấp oxy đầy đủ, theo dõi và hỗ trợ tim mạch.
Dựa trên y văn đã công bố, bệnh nhân bị mê sảng và kích động và có hội chứng kháng đối giao cảm rõ ràng có thể điều trị bằng physostigmin, 1-2 mg (trong tình trạng theo dõi điện tâm đồ liên tục). Điều trị này không được khuyến cáo là điều trị chuẩn vì có khả năng xảy ra tác dụng phụ của physostigmin trên dẫn truyền tim. Có thể dùng physostigmin nếu không có sự khác thường về điện tâm đồ. Không sử dụng physostigmin trong trường hợp rối loạn nhịp, bất kỳ phân độ nào của block nhĩ thất hoặc khoảng QRS mở rộng.
Trong khi chưa có nghiên cứu để hạn chế sự hấp thu khi quá liều, trong trường hợp ngộ độc nặng, có thể chỉ định rửa dạ dày trong vòng 1 giờ sau khi uống thuốc nếu có điều kiện. Có thể cân nhắc sử dụng than hoạt tính.
Trường hợp hạ huyết áp nặng do quá liều quetiapin nên điều trị bằng phương pháp thích hợp như truyền dịch tĩnh mạch và/hoặc sử dụng các chất có tác động giống giao cảm. Nên tránh epinephrin và dopamin vì sự kích thích beta có thể làm hạ huyểt áp nặng hơn trên nền tác động chẹn alpha của quetiapin.
Cần tiếp tục giám sát và theo dõi bệnh nhân chặt chẽ cho đến khi hồi phục hoàn toàn.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Nhóm dược lý trị liệu: Chống loạn thần.
Mã ATC: N05A H04
Cơ chế tác động
Quetiapin là thuốc chống loạn thần không điển hình. Quetiapin và chất chuyển hóa có hoạt tính trong huyết tương người, norquetiapin có tác động trên nhiều loại thụ thể dẫn truyền thần kinh. Quetiapin và norquetiapin có ái lực với thụ thể serotonin (5HT2) ở não và với thụ thể dopamin D, và D2. Tính đối kháng trên những thụ thể này và tính chọn lọc với thụ thể serotonin (5HT2) ở não cao hơn so với thụ thể dopamin D2 được xem là góp phần vào đặc tính chống loạn thần trên lâm sàng và ít nguy cơ tác dụng phụ trên hệ ngoại tháp của Seroquel so với các thuốc chống loạn thần điển hình. Quetiapin và norquetiapin có ái lực không đáng kể với thụ thể benzodiazepin nhưng có ái lực cao với thụ thể histaminergic và adrenergic alpha1 và có ái lực trung bình với thụ thể adrenergic alpha2. Quetiapin cũng có ái lực thấp hoặc không có ái lực với các thụ thể muscarinic, trong khi norquetiapin có ái lực trung bình đến cao đối với nhiều thụ thể muscarinic, điều này có thể giải thích cho tác dụng ức chế đối giao cảm (muscarinic). Sự ức chế chất vận chuyển norepinephrin (NET) và hoạt tính chủ vận một phần thụ thể 5HT1A của norquetiapin có thể góp phần tạo nên hiệu quả trị liệu của Seroquel XR như một chất chống trầm cảm.
Tác động dược lực
Quetiapin có hoạt tính trong các thử nghiệm chống loạn thần, chẳng hạn như thử nghiệm né tránh có điều kiện (conditioned avoidance). Quetiapin cũng phong bế tác động của các chất chủ vận dopamin trên các thử nghiệm hành vi hay sinh lý điện, và làm tăng nồng độ các chất chuyển hóa của dopamin, một chỉ số hóa thần kinh cho biết mức độ phong bế thụ thể D2.
Trong các thử nghiệm tiền lâm sàng dự báo khả năng có triệu chứng ngoại tháp (EPS), quetiapin không giống thuốc chống loạn thần điển hình và có đặc tính không điển hình. Quetiapin không gây tác động quá nhạy cảm với thụ thể dopamin D2 sau khi dùng lâu dài. Quetiapin chỉ gây tác động giữ nguyên thế (catalepsy) yếu ở các liều hiệu quả ức chế thụ thể dopamin D2. Quetiapin chứng tỏ tính chọn lọc trên vùng trung não hồi viền qua tác động ức chế khử cực của các nơrôn ở vùng rìa não giữa (mesolimbic) nhưng không tác động trên các nơrôn vùng nhân đen thể vân (nigrostriatal) sau khi dùng lâu dài. Quetiapin có thể gây loạn trương lực cơ ở mức tối thiểu trên loài khỉ Cebus nhạy cảm với haloperidol hoặc chưa từng dùng thuốc (drug-naive) sau khi dùng thuốc ngay lập tức và lâu dài (xem “Tác Dụng Không Mong Muốn”).
Hiệu quả lâm sàng
Tâm thần phân liệt
Hiệu quả của Seroquel XR trong điều trị tâm thần phân liệt đã được chứng minh qua một thử nghiệm đối chứng với giả dược trong 6 tuần trên bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn DSM-IV của tâm thần phân liệt và một thử nghiệm có đối chứng với thuốc có hoạt tính chuyển từ Seroquel IR sang Seroquel XR trên bệnh nhân tâm thần phân liệt ổn định điều trị ngoại trú.
Độ biến thiên trên các kết quả điều trị trong một thử nghiệm có đối chứng với giả dược được chuyển đổi từ giá trị ngưỡng sang tổng số điểm PANSS. Seroquel XR 400 mg/ngày, 600 mg/ngày và 800 mg/ngày cải thiện các triệu chứng tâm thần có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Các liều 600mg và 800mg cho hiệu quả cao hơn liều 400mg.
Trong một nghiên cứu chuyển đổi thuốc có đối chứng với thuốc có hoạt tính trong 6 tuần, độ biến thiên trên các kết quả điều trị chính là tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng với thuốc, ví dụ như ngưng trị liệu do thuốc không hiệu quả hoặc tổng điểm PANSS tăng tối thiểu 20% từ khi bắt đầu tham gia vào nghiên cứu ngẫu nhiên cho đến một lần tái khám bất kỳ. Ở các bệnh nhân ổn định khi sử dụng Seroquel IR liều từ 400mg đến 800mg, hiệu quả vẫn được duy trì khi bệnh nhân chuyển sang sử dụng Seroquel XR một lần/ngày với tổng liều dùng mỗi ngày tương đương.
Trong một nghiên cứu dài hạn trên bệnh nhân tâm thần phân liệt ổn định được điều trị duy trì với Seroquel XR trong 16 tuần, Seroquel XR hiệu quả hơn giả dược trong ngăn ngừa tái phát. Nguy cơ tái phát được ước tính sau 6 tháng điều trị là 14,3% ở nhóm bệnh nhân điều trị với Seroquel XR so với 68,2% ở nhóm dùng giả dược. Liều trung bình sử dụng là 669mg. Không có thêm phát hiện gì về tính an toàn khi điều trị bằng Seoquel XR cho đến thời điểm 9 tháng (thời điểm trung vị là 7 tháng). Đặc biệt, các báo cáo về các biến cố ngoại ý liên quan đến hội chứng ngoại tháp và tăng cân không tăng lên khi sử dụng Seroquel XR trong trị liệu dài hạn.
Rối loạn lưỡng cực
Trong 2 thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu nhằm điều trị các cơn hưng cảm mức độ nặng hay trung bình, quetiapin thể hiện hiệu quả vượt trội so với giả dược trong việc làm giảm các triệu chứng hưng cảm ở tuần thứ 3 và tuần thứ 12. Chưa có dữ liệu từ các nghiên cứu dài hạn nhằm chứng minh hiệu quả của quetiapin trong việc phòng ngừa các cơn hưng cảm hoặc các cơn trầm cảm xuất hiện sau đó. Dữ liệu về trị liệu phối hợp giữa quetiapin với divalproex hay lithi trong điều trị các cơn hưng cảm nặng hay trung bình trong 3 hay 6 tuần vẫn còn giới hạn; tuy vậy trị liệu phối hợp này được dung nạp tốt. Số liệu cho thấy có tác động hiệp lực vào tuần thứ 3. Một nghiên cứu khác không chứng minh được tác động hiệp lực ở tuần thứ 6.
Trong một thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân bị các cơn trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực I và II, Seroquel XR 300 mg/ngày hiệu quả hơn so với giả dược trong việc giảm tổng số điểm MADRS.
Trong 4 thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân bị các cơn trầm cảm do rối loạn lưỡng cực I hoặc II, có hoặc không có các đợt luân phiên nhanh các trạng thái tinh thần, 51% bệnh nhân điều trị với quetiapin cải thiện ít nhất 50% tổng số điểm MADRS ở tuần thứ 8 so với 37% ở nhóm điều trị với giả dược. Tác động chống trầm cảm thấy rõ vào ngày 8 (tuần 1). Ít cơn hưng cảm xuất hiện trong quá trình điều trị với Seroquel hơn so với giả dược. Khi tiếp tục điều trị, tác động chống trầm cảm được duy trì ở nhóm bệnh nhân sử dụng Seroquel (thời gian điều trị trung bình là 30 tuần). Seroquel làm giảm đến 49% nguy cơ tái phát các biển cố rối loạn khí sắc (hưng cảm và trầm cảm). Seroquel tốt hơn giả dược trong điều trị các triệu lo âu liên quan đến trầm cảm do rối loạn lưỡng cực được đánh giá qua thay đổi trung bình về tổng điểm HAM-A ở tuần thứ 8 so với ban đầu.
Trong một thử nghiệm dài hạn (điều trị đến 2 năm, trung bình thời gian tiếp xúc với quetiapin là 191 ngày) đánh giá hiệu quả ngăn ngừa tái phát trên bệnh nhân bị các cơn hưng cảm, cơn trầm cảm hoặc phối hợp, quetiapin tốt hơn giả dược trong việc kéo dài thời gian tái phát bất kỳ biến cố khí sắc nào (hưng cảm, phối hợp hoặc trầm cảm), ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực I. Số lượng bệnh nhân có một biến cố khí sắc theo thứ tự là 91 (22,5%) ở nhóm quetiapin, 208 (51,5%) ở nhóm giả dược và 95 (26,1%) ở nhóm điều trị với lithi. Ở các bệnh nhân đáp ứng với quetiapin, khi so sánh việc tiếp tục trị liệu với quetiapin và việc chuyển sang trị liệu với lithi, kết quả cho thấy chuyển sang trị liệu với lithi dường như không liên quan đến sự tăng thời gian tái phát các biến cố khí sắc.
Trong hai nghiên cứu về ngăn ngừa tái phát đánh giá quetiapin phối hợp với các thuốc ổn định khí sắc, ở bệnh nhân bị các cơn hưng cảm, trầm cảm hoặc phối hợp, phối hợp với quetiapin tốt hơn đơn trị liệu thuốc ổn định khí sắc trong việc gia tăng thời gian tái phát bất kỳ biến cố khí sắc nào (hưng cảm, phối hợp hoặc trầm cảm). Nguy cơ tái phát biến cố khí sắc giảm 70%. Quetiapin được sử dụng 2 lần/ngày với tổng liều mỗi ngày từ 400mg đến 800mg phối hợp với lithi hoặc valproat.
Các cơn trầm cảm lớn trong rối loạn trầm cảm chủ yếu
Hai nghiên cứu ngắn hạn (6 tuần) tiến hành trên bệnh nhân có đáp ứng không đầy đủ với ít nhất một thuốc chống trầm cảm. Seroquel XR 150mg và 300mg/ngày được sử dụng điều trị hỗ trợ cho liệu pháp chống trầm cảm đang sử dụng (amitriptylin, bupropion, citalopram, duloxetin, escitalopram, cluoxetin, paroxetin, sertralin hoặc venlafaxin) thể hiện tính vượt trội so với đơn trị liệu thuốc chống trầm cảm trong việc làm giảm các triệu chứng trầm cảm được đánh giá qua sự cải thiện tổng điểm MADRS (thay đổi trung bình bình phương bé nhất so với giả dược là 2-3,3 điểm).
Hiệu quả và tính an toàn dài hạn trên bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu chưa được đánh giá trong điều trị hỗ trợ, tuy nhiên hiệu quả và tính an toàn dài hạn đã được đánh giá trên bệnh nhân người lớn trong đơn trị liệu (xem phần bên dưới)
Các nghiên cứu sau đây được thực hiện với Seroquel XR đơn trị liệu, tuy nhiên Seroquel XR chỉ được chỉ định sử dụng trong điều trị hỗ trợ:
Ba trong số bốn nghiên cứu đơn trị liệu ngắn hạn (đến 8 tuần), trên bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm chủ yếu, Seroquel XR 50mg, 150mg và 300mg/ngày thể hiện hiệu quả vượt trội so với giả dược trong việc làm giảm các triệu chứng trầm cảm được đánh giá qua sự cải thiện tổng số điểm theo thang phân loại trầm cảm Montgomery-Asberg (MADRS) (thay đổi trung bình bình phương bé nhất so với giả dược là 2-4 điểm).
Trong một nghiên cứu đơn trị liệu về ngăn ngừa tái phát, bệnh nhân có các cơn trầm cảm đã ổn định với điều trị Seroquel XR nhãn mở trong ít nhất 12 tuần được sử dụng ngẫu nhiên Seroquel XR mỗi ngày 1 lần hoặc giả dược trong tối đa 52 tuần. Liều trung bình của Seroquel XR trong pha ngẫu nhiên là 177 mg/ngày.Tỷ lệ tái phát là 14,2% ở nhóm bệnh nhân điều trị với Seroquel XR và 34,4% ở nhóm bệnh nhân dùng giả dược.
Trong một nghiên cứu ngắn hạn (9 tuần) trên bệnh nhân cao tuổi không bị sa sút trí tuệ (từ 66 đến 69 tuổi) bị rối loạn trầm cảm chủ yếu, Seroquel XR với liều linh hoạt trong khoảng 50mg đến 300mg/ngày thể hiện hiệu quả vượt trội so với giả dược trong việc làm giảm các triệu chứng trầm cảm được đánh giá qua sự cải thiện tổng điểm MADRS (thay đổi trung bình bình phương bé nhất so với giả dược là -7,54 điểm). Trong nghiên cứu này, bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào nhóm Seroquel XR được dùng 50mg/ngày vào ngày 1-3, liều dùng có thể tăng lên đến 100mg/ngày vào ngày 4, 150mg/ngày vào ngày 8 và đến 300mg/ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp. Liều trung bình của Seroquel XR là 160mg/ngày. Ngoài tần suất các triệu chứng ngoại tháp (xem phần “Tác dụng không mong muốn” và “An toàn lâm sàng” bên dưới) sự dung nạp của Seroquel XR dùng mỗi ngày 1 lần ở bệnh nhân cao tuổi tương đương với sự dung nạp ở bệnh nhân người lớn (từ 18 – 65 tuổi).Tỷ lệ bệnh nhân được chia nhóm ngẫu nhiên trên 75 tuổi là 19%.
Rối loạn lo âu toàn thể (ở người lớn)
Hiệu quả của Seroquel XR trong đơn trị liệu rối loạn lo âu toàn thể (GAD) được thiết lập trong 4 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược (bao gồm một nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi) và 1 thử nghiệm duy trì có đối chứng với giả dược. Bệnh nhân tham gia trong tất cả các thử nghiệm đáp ứng tiêu chuẩn DSM-IV về rối loạn lo âu toàn thể.
Điều trị cấp tính rối loạn lo âu toàn thể
Hiệu quả của Seroquel XR đơn trị liệu dùng 1 lần mỗi ngày trong điều trị rối loạn lo âu toàn thể được chứng minh trong 3 thử nghiệm lâm sàng liều cố định, có đối chứng với giả dược trong 10 tuần (dân số dự định điều trị hiệu chỉnh (MITT) n=2588). Ba mức liều Seroquel XR được ấn định là 50, 150 và 300mg/ngày. Hai thử nghiệm lâm sàng bao gồm 1 thuốc so sánh có tác dụng (escitalopram 10mg/ngày trong một thử nghiệm và paroxetin 20mg/ngày trong thử nghiệm còn lại). Bệnh nhân có tổng điểm HAM-A trung bình là 26 lúc khởi đầu.
Seroquel XR ở các mức liều 50,150 và 300mg dùng 1 lần mỗi ngày tốt hơn giả dược trong việc làm giảm triệu chứng lo âu được đánh giá qua tổng điểm HAM-A. Hiệu quả được thể hiện sớm vào ngày thứ 4 và hiệu quả điều trị tiếp tục trong suốt thử nghiệm (8 tuần – mục tiêu chính; xem Bảng 3). Không ghi nhận nhóm sử dụng liều 300mg/ngày có lợi ích hơn nhóm sử dụng liều 150mg/ngày. Cả 2 thuốc so sánh (escitalopram và paroxetin) có tác dụng tốt hơn có ý nghĩa thống kê so với giả dược vào tuần 8, tuy nhiên không thuốc nào thể hiện sự vượt trội hơn giả dược vào ngày 4. Độ mạnh tác dụng chống lo âu của Seroquel XR còn được thể hiện quá nhiều biến số kết cục phụ khác. Sự cải thiện có ý nghĩa thổng kê các triệu chứng trầm cảm cũng được nhận thấy với Seroquel XR (được đánh giá qua tổng điểm MADRS; tổng điểm trung bình lúc khởi đầu là < 16) và triệu chứng về giấc ngủ (được đánh giá qua tổng điểm theo chỉ số đánh giá chất lượng giấc ngủ Pittsburgh [PSQI]).
Bảng 3 Tóm tắt hiệu quả theo HAM-A (LOCF, dân số MITT) trong các thử nghiệm về rối loạn lo âu toàn thể ngắn hạn [phân tích gộp từ các thử nghiệm trên người không cao tuổi và trên người cao tuổi]
| Kết quả HAM-A (Tuần 8 trong thử nghiệm trên người không cao tuổi; Tuần 9 trong thử nghiệm trên người cao tuổi) | ||||
| N (QTP/PLA) | Tổng điểm, thay đổi trung bình bình phương bé nhất tính ngẫu nhiên
[95% Cl]* |
Tỷ lệ đáp ứnga
(% bệnh nhân) |
Mức độ thuyên giảmb
(% bệnh nhân) |
|
| Phân tích gộp – 3 thử nghiệm ngắn hạn không trên người cao tuổi | ||||
| QTP 50mg so với PLA | 438/654 | -13,31 so với -11,30
p < 0,001 |
61,4 so với 49,7
p = 0,001 |
34,2 so với 27,4
p = 0,036 |
| QTP 150mg so với PLA | 654/654 | -14,39 so với -11,30
p < 0,001 |
65,0 so với 49,7
p < 0,001 |
39,0 so với 27,4
p < 0,001 |
| QTP 300 mg so với PLA | 425/654 | -12,50 so với -11,30
p < 0,001 |
53,9 so với 49,7
NS |
28,5 so với 27,4
NS |
| Thử nghiệm trên người cao tuổi | ||||
| QTP so với PLA | 222/226 | -14,97 so với -7,21
p < 0,001 |
68,5 so với 23,9
p < 0,001 |
40,1 so với 12,8
p < 0,001 |
HAM-A – Thang đánh giá giá lo âu Hamilton, LOCF – số liệu tính đến lần ghi nhận cuối cùng, MITT – dân số dự định điều trị hiệu chỉnh, PLA Giả dược, QTP Quetiapin, N số bệnh nhân trong nhóm điều trị, LS – bình phương bé nhất, * mục tiêu chính, Cl – khoảng tin cậy; a ≥ 50% cải thiện tổng điểm HAM-A, b ≤ 7 tổng điểm HAM-A, c liều linh hoạt (50 – 300 mg/ngày; liều trung bình 168 mg/ngày) NS – không có ý nghĩa.
Sử dụng cho bệnh nhân cao tuổi:
An toàn và hiệu quả của Seroquel XR được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng với giả dược trong 11 tuần trên bệnh nhân cao tuổi không sa sút trí tuệ (từ 66 – 88 tuổi) bị rối loạn lo âu toàn thể. Tỷ lệ bệnh nhân trên 75 tuổi được phân nhóm ngẫu nhiên là 13%. Seroquel XR thể hiện sự vượt trội hơn giả dược trong việc làm giảm các triệu chứng lo âu được đánh giá qua sự cải thiện tổng điểm HAM-A, với sự cải thiện có ý nghĩa thống kê được ghi nhận trong tuần đầu tiên và tiếp tục trong suốt nghiên cứu (tuần 9 – mục tiêu chính; xem Bảng 1). Tất cả các biến số thứ cấp được ấn định (bao gồm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và chất lượng giấc ngủ) cũng thể hiện tính vượt trội của Seroquel XR so với giả dược ở bệnh nhân cao tuổi.
Hiệu quả điều trị duy trì chống lo âu:
Hiệu quả của SEROQUEL XR 50mg, 150mg, hoặc 300mg mỗi ngày 1 lần trong điều trị duy trì chống lo âu được thiết lập trong một thử nghiệm lâm sàng dài hạn bao gồm một pha nhãn mở (4 đến 8 tuần trong pha dẫn nhập (run-in) và 12 đến 18 tuần trong pha ổn định) sau đó là một pha điều trị ngẫu nhiên mù đôi. Bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn để phân nhóm ngẫu nhiên (nghĩa là bệnh nhân ổn định trong ít nhất 12 tuần; n=433) được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm giả dược hoặc tiếp tục với Seroquel XR (cùng liều với pha nhãn mở) cho đến 52 tuần. Do hiệu quả của Seroquel XR, thời gian tiếp xúc trung bình ở nhóm Seroquel XR cao hơn 56% so với nhóm giả dược (106,9 so với 68,6 ngày), với 64 bệnh nhân điều trị Seroquel XR trong hơn 28 tuần. Liều Seroquel XR có thể được điều chỉnh dựa vào nhu cầu lâm sàng trong cả pha nhãn mở và pha ngẫu nhiên. Tại thời điểm kết thúc pha nhãn mở có 49% bệnh nhân dùng liều 150 mg/ngày, 26% bệnh nhân dùng liều 50 mg/ngày và 25% bệnh nhân dùng liều 300 mg/ngày. 93% bệnh nhân vẫn duy trì liều dùng trong suốt giai đoạn ngẫu nhiên.
Bệnh nhân dùng Seroquel XR (liều trung bình 163 mg/ngày) có sự kéo dài có ý nghĩa thống kê về thời gian xảy ra các biến cố lo âu (mục tiêu chính) so với bệnh nhân dùng giả dược, bệnh nhân dùng Seroquel XR giảm 81% nguy cơ xảy ra các biến cố lo âu so với bệnh nhân dùng giả dược (Tỷ số nguy cơ [HR] 0,19; 95% Cl 0,12, 0,31; p < 0,0001). Xem Hình 1. Hiệu quả của Seroquel XR trong điều trị duy trì ở bệnh nhân bị rối loạn lo âu toàn thể còn được thể hiện qua các biến số thứ cấp, bao gồm duy trì sự giảm các triệu chứng lo âu và trầm cảm, và mức cải thiện chức năng, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và chất lượng giấc ngủ.
Hình 1: Thời gian xảy ra các cơn lo âu tái phát, đường cong Kaplan – Meier (phân tích ITT, gia đoạn ngẫu nhiên)
ITT dân số dự định điều trị; PLA – giả dược; QTP XR – quetiapin XR.
An toàn tâm sàng:
Trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân tâm thần phân liệt và hưng cảm do rối loạn lưỡng cực, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp ở nhóm quetiapin tương tự với nhóm giả dược (tâm thần phân liệt: 7,8% ở nhóm quetiapin và 8,0% ở nhóm giả dược; hưng cảm do rối loạn lưỡng cực: 11,2% ở nhóm quetiapin và 11,4% ở nhóm giả dược). Tỷ lệ các triệu chứng ngoại tháp cao hơn ở nhóm bệnh nhân điều trị với quetiapin so với bệnh nhân dùng giả dược trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu và trầm cảm do rối loạn lưỡng cực. Trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân trầm cảm do rối loạn lưỡng cực, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp là 8,9% ở nhóm quetiapin so với 3,8% ở nhóm giả dược. Trong các thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên rối loạn trầm cảm chủ yếu, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp là 5,4% ở nhóm Seroquel XR và 3,2% ở nhóm giả dược. Trong các thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân cao tuổi bị rối loạn trầm cảm chủ yếu, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp là 9,0% ở nhóm Seroquel XR và 2,3% ở nhóm giả dược. Trong trầm cảm do rối loạn lưỡng cực và rối loạn trầm cảm chủ yếu, tần suất từng biến cố ngoại ý riêng lẻ thường thấp và không vượt quá 4% ở bất kỳ nhóm điều trị nào. Trong các thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên rối loạn lo âu toàn thể, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp là 4,9% ở nhóm Seroquel XR và 3,2% ở nhóm giả dược. Trong một thử nghiệm lâm sàng đơn trị liệu ngắn hạn, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân cao tuổi bị rối loạn lo âu toàn thể, tổng tần suất các triệu chứng ngoại tháp là 5,4% ở nhóm Seroquel XR và 2,2% ở nhóm giả dược.
Trong các nghiên cứu ngắn hạn (từ 3 đến 8 tuần), có đối chứng với giả dược, liều cố định (50 mg/ngày đến 800 mg/ngày), tăng cân trung bình ở bệnh nhân điều trị quetiapin khoảng từ 0,8 kg đối với liều 50mg mỗi ngày đến 1,4kg đối với liều 600mg mỗi ngày (với liều 800mg mỗi ngày thì tăng cân ít hơn), so với tăng 0,2kg ở bệnh nhân dùng giả dược. Tỷ lệ bệnh nhân điều trị với quetiapin tăng ≥ 7% thể trọng khoảng từ 5,3% đối với liều 50mg mỗi ngày đến 15,5% đối với liều 400mg mỗi ngày (với liều 600mg và 800mg mỗi ngày thì tăng cân ít hơn), so với 3,7% ở bệnh nhân dùng giả dược.
Các thử nghiệm dài hạn về ngăn ngừa tái phát có giai đoạn nhãn mở (khoảng từ 4 đến 36 tuần), trong giai đoạn này bệnh nhân điều trị với quetiapin, sau đó là một giai đoạn ngừng thuốc ngẫu nhiên, bệnh nhân được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm quetiapin hoặc giả dược. Đối với bệnh nhân được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm quetiapin, tăng cân trung bình trong giai đoạn nhãn mở là 2,56kg; và vào tuần 48 của giai đoạn ngẫu nhiên, tăng cân trung bình là 3,22kg so với khởi đầu giai đoạn nhãn mở. Đối với bệnh nhân phân bố ngẫu nhiên vào nhóm giả dược, tăng cân trung bình trong giai đoạn nhãn mở là 2,39kg; và vào tuần 48 của giai đoạn ngẫu nhiên, tăng cân trung bình là 0,89kg so với khởi đầu giai đoạn nhãn mở.
Trong các nghiên cứu có đối chứng với giả dược ở bệnh nhân cao tuổi mắc chứng loạn thần có liên quan đến sa sút trí tuệ, tần suất các biển cố ngoại ý trên mạch máu não tính trên 100 bệnh nhân nằm ở nhóm sử dụng quetiapin không cao hơn so với nhóm sử dụng giả dược.
Trong tất cả các thử nghiệm ngắn hạn, đơn trị liệu, có đối chứng với giả dược trên bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính ban đầu ≥ 1,5 x 109/L, tần suất xuất hiện ít nhất 1 lần thay đổi số lượng bạch cầu trung tính < 1,5 x 109/L là 1,9% ở bệnh nhân điều trị với quetiapin so với 1,3% ở bệnh nhân điều trị với giả dược. Tần suất thay đổi đến > 0,5 – < 1,0 x 109/L như nhau (0,2%) ở bệnh nhân điều trị với quetiapin và với giả dược. Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng (có đối chứng với giả dược, nhãn mở, so sánh với thuốc có hoạt tính) trên bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính ban đầu ≥ 1,5 x 109/L), tần suất xuất hiện ít nhất 1 lần thay đổi số lượng bạch cầu trung tính < 1,5 x 109/L là 2,9% và đến < 0,5 x 109/L là 0,21% ở bệnh nhân điều trị với quetiapin.
Trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn, liều cố định, có đối chứng với giả dược, điều trị với quetiapin làm giảm nồng độ hormon tuyến giáp phụ thuộc vào liều dùng. Trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có đối chứng với giả dược, tần suất những thay đổi nồng độ hormon tuyến giáp có ý nghĩa lâm sàng là: T4 toàn phần: 3,4% ở nhóm quetiapin so với 0,6% ở nhóm giả dược; T4 tự do: 0,7% ở nhóm quetiapin so với 0,1% ở nhóm giả dược; T3 toàn phần: 0,54% ở nhóm quetiapin so với 0,0% ở nhóm giả dược và T3 tự do: 0,2% ở nhóm quetiapin so với 0,0% ở nhóm giả dược. Tần suất thay đổi TSH là 3,2% ở nhóm quetiapin so với 2,7% ở nhóm giả dược. Trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn, đơn trị liệu, có đối chứng với giả dược, tần suất các thay đổi thuận nghịch, có ý nghĩa lâm sàng của T3 và TSH là 0,0% ở cả 2 nhóm quetiapin và giả dược và các thay đổi của T4 và TSH là 0,1% ở nhóm quetiapin so với 0,0% ở nhóm giả dược. Những thay đổi về nồng độ hormon tuyến giáp thường không liên quan đến suy giáp có triệu chứng lâm sàng. T4 toàn phần và T4 tự do giảm tối đa trong vòng 6 tuần đầu điều trị với quetiapin, mà không giảm thêm nữa khi trong điều trị kéo dài. Trong hầu hết các trường hợp, tác động trên nồng độ T4 toàn phần và T4 tự do sẽ mất khi ngưng sử dụng quetiapin, bất kể thời gian sử dụng thuốc, ở 8 bệnh nhân có đo globulin gắn kết với thyroxyn (TBG), nồng độ TBG không thay đổi.
Đục thủy tinh thể/cườm mắt:
Trong một nghiên cứu lâm sàng đánh giá khả năng gây đục thủy tinh thể của Seroquel (200 – 800 mg/ngày) so với risperidon (2 – 8mg) trên bệnh nhân bị tâm thân phân liệt hoặc rối loạn tâm thần dạng phân liệt, đối với bệnh nhân dùng thuốc ít nhất 21 tháng, tỷ lệ bệnh nhân tăng mức độ đục thủy tinh thể ở nhóm Seroquel (4%) không cao hơn so với nhóm risperidon (10%).
Trẻ em
Hiệu quả lâm sàng
Hiệ quả và an toàn của Seroquel được đánh giá qua nghiên cứu 3 tuần có đối chứng với giả dược trong điều trị hưng cảm (n= 284 bệnh nhân ở Mỹ, 10-17tuổi). Khoảng 45% được chẩn đoán thêm bị rối loạn hiếu động thái quá thiếu tập trung (ADHD). Ngoài ra, một nghiên cứu 6 tuần có đối chứng với giả dược trong điều trị tâm thần phân liệt (n = 222 bệnh nhân 13-17 tuổi) đã được thực hiện. Trong cả hai nghiên cứu, bênh nhân đã biết không có đáp ứng với Seroquel được loại trừ. Trị liệu với Seroquel được khởi đầu với liều 50 mg/ngàỵ và tăng lên 100 mg/ngày vào ngày thứ 2; các liều tiếp theo sau được điều chỉnh đến liều mục tiêu (hưng cảm: 400-600 mg/ngày; tâm thần phân liệt: 400-800 mg/ngày) với mức tăng 100mg/ngày chia làm 2-3 lần/ngày.
Trong nghiên cứu trên hưng cảm, sự khác nhau về thay đổi trung bình bình phương bé nhất so với ban đầu dựa trên tổng số điểm YMRS (nhóm trị liệu trừ nhóm giả dược) là -5,21 đối với Seroquel 400mg/ngày và -6,56 đối với Seroquel 600mg/ngày. Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng (cải thiện YMRS >50%) là 64% đối với Seroquel 400mg/ngày, 58% đối với 600mg/ngày và 37% ở nhánh giả dược.
Trong nghiên cứu trên tâm thần phân liệt, sự khác nhau về thay đổi trung bình bình phương bé nhất so với ban đầu dựa trên tổng số điểm PANSS (nhóm trị liệu trừ nhóm giả dược) là -8,16 đối với Seroquel 400mg/ngày và -9,29 đối với Seroquel 800mg/ngày. Đối với cả hai phác đồ liều thấp (400 mg/ngày) và liều cao (800 mg/ngày), tỷ lệ bệnh nhân đạt được đáp ứng, xác định khi giảm ≥ 30% tổng điểm PANSS so với ban đầu, ở nhóm Seroquel không cao hơn ở nhóm giả dược. Sử dụng liều cao trong điều trị hưng cảm và tâm thần phân liệt đều cho mức độ đáp ứng thấp hơn.
Trong thử nghiệm thứ 3 ngắn hạn, đơn trị liệu, có đối chứng với giả dược trên trẻ em và trẻ vị thành niên (10-17 tuổi) bị trầm cảm lưỡng cực, hiệu quả của Seroquel XR đã không được chứng minh.
Chưa có dữ liệu về tác động duy trì hoặc ngăn ngừa tái phát ở nhóm bệnh nhân ở độ tuổi này.
An toàn trên lâm sàng
Trong các thử nghiệm ngắn hạn của quetiapin trên trẻ em, tỷ lệ EPS ở nhóm tri liệu so với nhóm giả dược lần lượt là 12,9% so với 5,3% trong thử nghiệm tâm thần phân liệt, 3,6% so với 1,1% trong thử nghiệm hưng cảm lưỡng cực và 1,1% so với 0% trong thử nghiệm trầm cảm lưỡng cực. Tỷ lệ tăng cân ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu ở nhóm trị liệu so với nhóm giả dược là 17% so với 2,5% trong thử nghiệm tâm thần phân liệt và hưng cảm lưỡng cực, và 13,7% so với 6,8% trong thử nghiệm trầm cảm lưỡng cực. Tỷ lệ các biến cố liên quan đến tự tử ở nhóm trị liệu so với nhóm giả dược là 1,4% so với 1,3% trong thử nghiệm tâm thần phân liệt, 1,0% so với 0% trong thử nghiêm hưng cảm lưỡng cực, và 1,1% so với 0% trong thử nghiệm trầm cảm lưỡng cực. Trong suốt thời gian theo dõi kéo dài sau điều trị ở thử nghiệm trầm cảm lưỡng cực, có thêm hai biến cổ liên quan đến tự tử ở hai bệnh nhân; một trong hai bệnh nhân đã có sử dụng quetiapin tại thời điểm có biến cố.
Tính an toàn dài hạn
Một nghiên cứu nhãn mở, 26 tuần, mở rộng theo sau các nghiên cứu cấp tính (n= 380 bệnh nhân), sử dụng Seroquel với liều linh hoạt 400-800mg/ngày, đã cung cấp thêm các dữ liệu về tính an toàn. Tăng huyết áp đã được ghi nhận ở trẻ em và trẻ vị thành niên và tăng cảm giác thèm ăn, các triệu chứng ngoại tháp và tăng nồng độ prolactin huyết thanh đã được ghi nhận ở trẻ em và trẻ vị thành niên với tần suầt cao hơn ở người lớn (xem phần “Lưu ý đặc biệt và thận trọng khi sử dụng” và phần “Tác dụng không mong muốn”). Đối với tăng cân, khi điều chỉnh theo sự tăng trưởng bình thường trong khoảng thời gian dài, sự tăng chỉ số khối cơ thể (BMI) tối thiểu 0,5 độ lệch chuẩn so với ban đầu được sử dụng để đo sự thay đổi có ý nghĩa lâm sàng; 18,3% bệnh nhân điều trị với quetiapin trong tối thiểu 26 tuần đạt tiêu chí này.
Hấp thu
Quetiapin được hấp thu tốt sau khi uống. Nồng độ đỉnh của quetiapin and norquetiapin trong huyết tương đạt được khoảng 6 giờ sau khi uống Seroquel XR (Tmax). Nồng độ phân tử tối đa ở trạng thái ổn định của chất chuyển hóa có hoạt tính norquetiapin bằng 35% nồng độ này của quetiapin.
Dược động học của quetiapin và norquetiapin là tuyến tính và tỷ lệ với liều dùng ở các liều đến 800 mg x 1 lần/ngày. Seroquel XR dùng 1 lần/ngày so sánh với cùng tổng liều mỗi ngày của quetiapin fumarat dạng phóng thích nhanh (Seroquel IR) sử dụng 2 lần/ngày, diện tích dưới đường cong nồng độ-thời gian (AUC) là tương đương, nhưng nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) thấp hơn 13% ở trạng thái ổn định. Khi so sánh Seroquel XR với Seroquel phóng thích nhanh, AUC chất chuyển hóa norquetiapin thấp hơn 18%.
Một nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của thức ăn trên sinh khả dụng của quetiapin cho thấy một bữa ăn giàu chất béo làm tăng có ý nghĩa thống kê Cmax và AUC của Seroquel XR lần lượt khoảng 50% và 20%. Không thể loại trừ ảnh hưởng của bữa ăn giàu chất béo có thể lớn hơn trên công thức. Để so sánh, một bữa ăn nhẹ không ảnh hưởng đáng kể đến Cmax hoặc AUC của
quetiapin. Khuyến cáo dùng Seroquel XR 1 lần/ngày và không uống thuốc kèm thức ăn.
Phân bố
Quetiapin gắn kết với protein huyết tương khoảng 83%.
Chuyển hóa
Quetiapin được chuyển hóa hoàn toàn bởi gan, hợp chất gốc chiếm < 5% các chất liên quan đến thuốc chưa chuyển hóa có trong phân và nước tiểu sau khi uống quetiapin được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ.
Các nghiên cứu in vitro xác định rằng CYP3A4 là men chính chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa quetiapin qua trung gian cytochrom P450. Norquetiapin chủ yếu được hình thành và chuyển hóa qua CYP3A4.
Quetiapin và một số chất chuỵển hóa của nó (kể cả norquetiapin) là chất ức chế yếu hoạt tính cytochrom P450 1A2, 2C9, 2C19, 2D6 và 3A4 in vitro. Sự ức chế CYP in vitro chỉ quan sát được ở liều cao hơn gấp 5 đến 50 lần liều chỉ định 300 đến 800 mg/ngày ở người. Dựa trên các kết quả in vitro này, sự phối hợp Seroquel XR với các thuốc khác có thể không ức chế đáng kể sự chuyển hóa của các thuốc phối hợp qua trung gian cytochrom P450. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy quetiapin có thể gây cảm ứng các enzym cytochrom P450.Tuy vậy, trong một nghiên cứu tương tác đặc hiệu trên bệnh nhân loạn thần, không thấy có sự gia tăng hoạt tính cytochrom P450 sau khi sử dụng quetiapin.
Thải trừ
Thời gian bán thải của quetiapin và norquetiapin theo thứ tự khoảng 7 và 12 giờ. Khoảng 73% thuốc được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ được bài tiết qua nước tiểu và 21% qua phân với ít hơn 5% tổng hoạt tính phóng xạ dưới dạng thuốc không đổi. Tỷ lệ trung bình tính theo nồng độ phân tử giữa quetiapin tự do và chất chuyển hóa có hoạt tính trong huyết tương người norquetiapin bài tiềt qua nước tiểu là < 5%.
Các nhóm dân số đặc biệt
Giới tính
Dược động học của quetiapin không khác nhau giữa nam và nữ.
Người cao tuổi
Độ thanh thải trung bình của quetiapin ở người cao tuổi thấp hơn khoảng 30-50% so với ở người 18-65 tuổi.
Suy thận
Độ thanh thải trung bình của quetiapin trong huyết tương giảm khoảng 25% ở các bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút/1,73m2) nhưng độ thanh thải của từng bệnh nhân nằm trong giới hạn cho người bình thường.
Suy gan
Trung bình độ thanh thải quetiapin trong huyết tương giảm khoảng 25% ở bệnh nhân suy gan (xơ gan do rượu ở tình trạng ổn định). Vì quetiapin được chuyển hoá hoàn toàn bởi gan, nồng độ quetiapin huyết tương cao hơn ở bệnh nhân suy gan, và có thể cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan (xem “Liều dùng và cách dùng’’).
Trẻ em
Các dữ liệu dược động học từ 9 trẻ 10-12 tuổi và 12 trẻ vị thành niên, đã điều trị ổn định với 400mg quetiapin (Seroquel) hai lần/ngày. Ở tình trạng ổn định, nồng độ trong huyết tương đã bình thường theo liều của chất gốc ban đầu, quetiapin, ở trẻ em và trẻ vị thành niên (10-17 tuổi) nhìn chung tương tự với ở người lớn, mặc dù Cmax ở trẻ em ở giới hạn trên của Cmax ở người lớn. AUC và Cmax của chất chuyển hóa có hoạt tính, norquetiapin, theo thứ tự khoảng 62% và 49% ở trẻ em (10-12 tuổi), và 28% và 14% theo thứ tự ở trẻ vị thành niên (13-17 tuổi), cao hơn so với ở người lớn.
Chưa có dữ liệu của Seroquel XR ở trẻ em và trẻ vị thành niên.
Thuốc Seroquel XR 50mg được bào chế dưới dạng viên nén phóng thích kéo dài. Viên nén màu hồng đào, 2 mặt nồi có dạng hình nang, được khắc chữ XR50. Bao bên ngoài là hộp giấy cartone màu trắng + đỏ. Tên sản phẩm màu đen + đỏ, phía dưới in thành phần dược chất chính. 2 bên in qui cách đóng gói, cách bảo quản sản phẩm.
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 3 vỉ x 10 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Thuốc Seroquel XR 50mg có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.
Thuốc Seroquel XR 50mg có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VN-22285-19
AstraZeneca Pharmaceuticals LP
Địa chỉ: 587 Old Baltimore Pike; Newark; Delaware 19702; USA USA
USA.
Không có bình luận nào
Không hiển thị thông báo này lần sau.
Chưa có đánh giá nào.