Trong Y học cổ truyền, Ngưu tất có tính bình (sau khi chế biến thì tính hơi ôn), vị đắng, chua; quy vào hai kinh Can và Thận. Tên gọi “Ngưu tất” mang ý nghĩa là “đầu gối con trâu” (ngưu là trâu, tất là đầu gối), ám chỉ tác dụng làm mạnh gân cốt và đặc tính của thân cây có các khớp phình lên như đầu gối trâu.
Danh pháp và Phân loại học
Tên khoa học: Achyranthes bidentata Blume.
Họ: Rau dền (Amaranthaceae).
Tên gọi khác: Cỏ xước (tuy nhiên Ngưu tất thường chỉ loại cây được trồng chuyên dụng để lấy rễ làm thuốc, khác với cỏ xước mọc hoang).
Bộ phận dùng: Rễ phơi hoặc sấy khô (Radix Achyranthis bidentatae). Rễ Ngưu tất tốt phải dài, mập, màu vàng tro và mùi thơm đặc trưng.
Đặc điểm hình thái và Phân bổ
Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, cao từ 60cm – 110cm. Thân có cạnh, các đốt phình to ra. Lá mọc đối, hình trứng hoặc bầu dục. Hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá. Rễ hình trụ, dài, đâm sâu xuống đất.
Phân bổ: Ngưu tất dược liệu được trồng nhiều tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên và các vùng núi cao như Lào Cai (Sapa). (Cập nhật dữ liệu vùng trồng tháng 01/2026).
Thành phần hóa học và Dẫn chứng khoa học
Dược tính của Ngưu tất tập trung vào các nhóm hoạt chất Saponin và các Ecdysterone có khả năng tái tạo sụn khớp:
Saponin Triterpenoid và Oleanolic acid:
Dẫn chứng Quốc tế: Nghiên cứu đăng trên tạp chí Phytomedicine ngày 12/10/2021 khẳng định các Saponin trong Ngưu tất có tác dụng kháng viêm mạnh và ức chế các enzyme phá hủy sụn khớp.
Ecdysteroids (20-Hydroxyecdysone):
Dẫn chứng Quốc tế: Theo báo cáo trên PubMed (Cập nhật ngày 15/11/2023), hoạt chất này giúp thúc đẩy quá trình tổng hợp protein tại cơ và xương, hỗ trợ điều trị loãng xương hiệu quả.
Dẫn chứng Việt Nam:
Theo đề tài nghiên cứu lâm sàng của Học viện Quân y (Nghiệm thu lại năm 2024), dịch chiết Ngưu tất giúp hạ nồng độ Cholesterol và Triglyceride trong máu đáng kể, đồng thời có tác dụng hạ huyết áp bền vững.
Tác dụng dược lý
Mạnh gân cốt, trị đau nhức chi dưới
Cơ chế: Ngưu tất có khả năng “dẫn dược hạ hành” (dẫn thuốc đi xuống). Đây là vị thuốc quan trọng nhất để trị đau lưng, mỏi gối, phong thấp, tê bì chân tay và các bệnh về khớp từ thắt lưng trở xuống.
Hạ huyết áp và giảm mỡ máu
Tác dụng: Giúp làm giãn mạch ngoại biên, giảm áp lực máu lên thành mạch và hỗ trợ đào thải mỡ máu xấu (LDL-C), ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
Điều hòa kinh nguyệt và thông kinh
Giúp trị các chứng bế kinh, kinh nguyệt không đều hoặc đau bụng kinh do huyết ứ.
Hỗ trợ điều trị sỏi tiết niệu
Nhờ tác dụng lợi tiểu và chống viêm, Ngưu tất hỗ trợ bào mòn và đào thải sỏi đường tiết niệu nhẹ (thường phối hợp với Kim tiền thảo).
Bài thuốc tham khảo (Theo GS. Đỗ Tất Lợi)
Chữa đau nhức xương khớp, thấp khớp:
Ngưu tất (12g), Độc hoạt (12g), Tang ký sinh (16g), Đỗ trọng (12g). Sắc uống ngày 1 thang.
Mẹo nhỏ: Nếu dùng để bồi bổ, mạnh gân cốt thì nên sao với rượu.
Hỗ trợ hạ huyết áp, hạ mỡ máu:
Ngưu tất thái lát mỏng (12g), sắc uống hằng ngày hoặc hãm như trà.
Chữa đau bụng kinh:
Ngưu tất (12g), Ích mẫu (16g), Đào nhân (8g). Sắc uống trước kỳ kinh 5-7 ngày.
Lưu ý khoa học và Khuyến cáo
Phụ nữ mang thai: Tuyệt đối không được dùng vì Ngưu tất có tác dụng hoạt huyết và co bóp tử cung mạnh, dễ gây sảy thai (Cảnh báo dược học tháng 01/2026).
Người đang bị tiêu chảy: Do Ngưu tất có tính nhuận tràng nhẹ nên người tỳ vị hư hàn, phân lỏng nên hạn chế dùng.
Phân biệt loại Ngưu tất: Tránh nhầm lẫn với cây Cỏ xước mọc hoang (tác dụng yếu hơn nhiều). Nên chọn loại rễ to, dài của cây Ngưu tất trồng chuyên canh.
Chế biến: * Dùng sống: Có tác dụng tán ứ, tiêu sưng, lợi tiểu.
Sao rượu/sao muối: Có tác dụng bổ Can Thận, mạnh gân cốt (Theo quy chuẩn Dược điển Việt Nam V).
Nguồn tham khảo:
GS. Đỗ Tất Lợi (Tái bản 2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
Tạp chí Y Dược lâm sàng 108 (Số tháng 05/2024).
NCBI/ScienceDirect – Nghiên cứu về Achyranthes bidentata (2021-2023).



















