Nhiệt độ chuẩn là bao nhiêu?

Cơ thể luôn sản xuất ra nhiệt năng để giữ cho thân nhiệt ở một mức hằng định cần cho sự sống.

Đo bằng nhiệt kế: bình thường thân nhiệt là 370C (vị trí đo ở miệng và ở trực tràng thường cao hơn ở nách 0,5 – 0,60C).

Sốt là khi thân nhiệt đo bằng nhiệt kế cao quá mức bình thường, biểu hiện trạng thái bệnh lý và là một phản ứng của cơ thể đối với nhiều nguyên nhân gây bệnh.

Sốt cao và sốt kéo dài là bệnh gì?
Sốt cao và sốt kéo dài là bệnh gì?

Mức độ sốt thế nào?

Sốt: có 4 mức độ:

  • Hơi sốt hoặc sốt nhẹ: 37,50C
  • Sốt vừa: 38 – 38,50C
  • Sốt cao: 39 – 400C
  • Sốt rất cao: trên 400C

Các kiểu sốt

Tùy theo tính chất của đường nhiệt độ, người ta chia ra các kiểu sốt sau đây:

Sốt liên tục:

Nhiệt độ lúc nào cũng cao; mức chênh lệch nhiệt độ giữa sáng, chiều trong ngày không quá 10C, thường gặp trong các bệnh như: viêm phổi, thương hàn.

Sốt dao động:

Sốt dai dẳng, nhưng biểu đồ rất đặc hiệu: trên một nền nhiệt độ bình thường, có những lúc nhiệt độ vọt lên cao 39-400C, sau vài giờ trở lại nhiệt độ bình thường. Sự lên vọt nhiệt độ có thể vài lần trong một ngày, có khi không theo một chu kỳ nhất định nào. Gặp trong bệnh nhân nhiễm khuẩn máu, viêm màng trong tim bán cấp.

Sốt có chu kỳ:

Là một kiểu sốt cơn: trong đó 1 đợt sốt vài ba ngày hoặc 5-7 ngày, rồi mới hết sốt, nhưng lại tiếp theo đến một đợt sốt khác, gặp trong các bệnh: sốt rét cơn, sốt hồi qui.

Sốt kéo dài:

Khi sốt liên tục trên 3 tuần lễ.

Nguyên nhân của sốt:

Sốt có nhiều nguyên nhân. Xác định nguyên nhân của sốt, nhất là sốt kéo dài, nhiều khi khó khăn. Cần phải xem xét kỹ các đặc điểm của đường nhiệt độ và những dấu hiệu toàn thân, chức năng, phối hợp với sốt; hỏi bệnh nhân kỹ lưỡng, chú ý các tiền sử của bệnh nhân; khám bệnh toàn diện về lâm sàng và bổ sung những thăm khám cận lâm sàng cần thiết.

Sau đây là những nguyên nhân thường gặp của sốt cao và kéo dài:

 Các bệnh nhiễm khuẩn

Các bệnh nhiễm khuẩn do các vi trùng thông thường gây nên

  • Các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: răng, họng, xoang, amidan…
  • Phổi và tim (viêm phổi, viêm màng trong tim…)
  • Gan và đường mật (áp xe gan, viêm đường mật…)
  • Bộ tiết niệu (viêm mủ bể thận…)

Các nhiễm khuẩn do có hạ bạch cầu hoặc bạch cầu không tăng:

  • Lao
  • Các nhiễm khuẩn Gram âm: Thương hàn, bệnh do Salmonella
  • Nhiễm vi rút.

Các bệnh ký sinh trùng: sốt rét.

Các bệnh máu ác tính: bệnh bạch cầu cấp, bệnh Hodgkin, bệnh Sarcomlimpho.

Các ung thư ở sâu: gan, thận, phổi.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người