Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Anh Quốc |
| Quy cách | Hộp 4 vỉ x 7 viên |
| Thương hiệu | Novartis |
| Chuyên mục | Tim mạch |
| Thành phần | Eltrombopag |
Thuốc Revolade 25mg có nguồn gốc, xuất xứ từ Anh và được nhập khẩu trực tiếp về Việt Nam. Được cấp phép bởi Cục quản lý Dược – Bộ Y Tế. Có tác dụng điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch
REVOLADE 25MG được chỉ định điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (vô căn) (immune (idiopathic) thrombocytopenic purpura – ITP) mạn tính ở bệnh nhân người lớn kháng trị với các điều trị khác (ví dụ corticosteroid, globulin miễn dịch).
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.
Mỗi viên nén bao phim có chứa thành phần như:
Eltrombopag olamine tương đương với 25 mg eltrombopag dạng acid tự do
Tá dược:
Viên nén trần: Magnesi stearate, Mannitol, Microcrystalline cellulose, Povidone, Sodium starch glycolate.
Bao phim: Opadry White YS-1-7706-G (chứa Hypromellose, Macrogol 400 (polyethylene glycol 400), Titanium dioxide (E171), Polysorbate 80).

Thuốc này cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng.
Dùng đường uống
Chế độ liều của REVOLADE phải tính riêng cho từng cá thể dựa trên số lượng tiểu cầu của bệnh nhân. Dùng liều thấp nhất có hiệu quả để duy trì số lượng tiểu cầu theo chỉ định trên lâm sàng. Ở hầu hết các bệnh nhân, sự tăng số lượng tiểu cầu có thể đo được sau 1 – 2 tuần (xem Các nghiên cứu lâm sàng).
Người lớn
Liều REVOLADE khởi đầu được khuyến cáo là 50 mg một lần mỗi ngày.
Theo dõi và điều chỉnh liều
Sau liều REVOLADE khởi đầu, chỉnh liều để đạt được và duy trì số lượng tiểu cầu 2 50.000/pl cần thiết để giảm nguy cơ chảy máu Không dùng quá liều 75 mg/ngày.
Nên theo dõi thường xuyên các xét nghiệm lâm sàng về huyết học và chức năng gan trong suốt quá trinh điều trị với REVOLADE và Chỉnh liều REVOLADE dựa trên số lượng tiểu Cầu như trong Bảng 1. Trong suốt quá trình điều trị với REVOLADE; nên đánh giá hàng tuần công thức máu toàn phần (CBCs), kể cả số lượng tiểu Cầu và phết máu ngoại vi, đến khi đạt được số lượng tiểu cầu ổn định (5 50.000/ụl trong ít nhất 4 tuần). Sau đó, hàng tháng nên đánh giá công thức máu toàn phần kể cả số lượng tiểu cầu và phết máu ngoại vi.
Nên sử dụng chế độ liều thấp nhất có hiệu quả để duy trì số lượng tiểu cầu theo chỉ định trên lâm sàng.
Bảng 1: Chỉnh liều REVOLADE
| Số lượng tiểu cầu | Chỉnh liều hoặc đáp ứng |
| < 50.000/ụl sau ít nhất 2 tuần điều trị | Tăng 25 mg liều hàng ngày lên tối đa 75 mg/ngày. |
| > 200.000/ụl đến < 400.000/ụl | Giảm 25 mg liều hàng ngày. Đợi 2 tuần để đánh giá hiệu quả của liều này và bất kỳ sự chỉnh liều nào tiếp theo. |
| > 400.000/ụl | Ngừng dùng REVOLADE; tăng tần suất kiểm tra tiểu cầu lên 2 lần/tuần.
Khi số lượng tiểu Cầu < 150.000/pl, bắt đầu điều trị lại với liều hàng ngày thấp hơn. |
Sau bất kỳ sự điều chỉnh liều REVOLADE nào, nên theo dõi số lượng tiểu cầu ít nhất hàng tuần trong 2 đến 3 tuần. Đợi ít nhất 2 tuần để xem hiệu quả của bất kỳ sự chỉnh liều nào trên đáp ứng tiểu cầu của bệnh nhân trước khi xem xét việc chỉnh liều thêm, ở bệnh nhân xơ gan (tức suy gan), đợi 3 tuần trước khi tăng liều (xem Các nhóm đối tượng bệnh nhân, Cảnh báo và Thận trọng).
Điều chỉnh liều tiêu chuẩn, giảm hoặc tăng, là 25 mg một lần mỗi ngày. Tuy nhiên, ở một số ít bệnh nhân, có thể cần phối hợp các viên thuốc có hàm lượng khác nhau vào các ngày khác nhau.
Nên uống REVOLADE ít nhất 4 giờ trước hoặc sau khi uống các sản phẩm khác như thuốc kháng acid, sản phẩm từ sữa, hoặc các chất khoáng bổ sung có chứa cation đa hóa trị (ví dụ nhôm, calcicalci, sắt, magnesimagnesi, selenselen và kẽm) (xem Tương tác, Dược động học – Hấp thu).
REVOLADE có thể dùng cùng với thức ăn có chứa ít calci (< 50 mg) hoặc tốt hơn là không chứa calcicalcium (xem Tương tác, Dược động học).
Ngừng thuốc
Nên ngừng điều trị với REVOLADE nếu số lượng tiểu cầu không tăng đến mức đủ để tránh chảy máu nghiêm trọng trên lâm sàng sau 4 tuần điều trị với REVOLADE ở liều 75 mg một lần hàng ngày.
Các nhóm đối tượng bệnh nhân
Người cao tuổi
Dữ liệu về việc sử dụng REVOLADE ở bệnh nhân 65 tuổi và lớn hơn còn hạn chế. Trong các nghiên cứu lâm sàng của REVOLADE, nhìn chung không quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về tính an toàn của REVOLADE giữa các đối tượng tuổi 65 tuổi trở lên và các đối tượng trẻ hơn. Các báo cáo kinh nghiệm lâm sàng khác chưa xác định được sự khác biệt về đáp ứng giữa các bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân trẻ hơn, nhưng cũng không thể loại trừ một sổ đối tượng lớn tuổi hơn có sự nhạy cảm cao hơn.
Suy gan
Nên thận trọng và theo dõi chặt chẽ khi sử dụng REVOLADE cho bệnh nhân xơ gan (điểm Child Pugh 5) (xem Cảnh báo và Thận trọng). Nếu cần sử dụng REVOUKDE cho bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn (ITP) bị suy gan , bắt đầu điều trị REVOLADE ở liều 25 mg một lần hàng ngày (xem Dược lý lâm sàng, Các nhóm đối tượng đặc biệt).
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của REVOLADE trên trẻ em vẫn chưa được xác lập.
Bệnh nhân Đông Á
Đối với bệnh nhân Đông Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan hoặc Hàn Quốc) bao gồm cả những bệnh nhân bị suy gan, có thể cân nhắc giảm liều khởi đầu REVOLADE xuống còn 25 mg một lần hàng ngày (xem Dược lý lâm sàng). Nên tiếp tục theo dõi số lượng tiểu cầu của bệnh nhân và tuân theo tiêu chí để chỉnh liều thêm.
Trong quá trình sử dụng Thuốc Revolade 25mg, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:
Hiệu quả và tính an toàn của REVOLADE chưa được xác lập để sử dụng cho các tình trạng giảm tiểu cầu khác kể cả giảm tiểu cầu do hóa trị và hội chứng loạn sản tủy (MDS).
Theo dõi chức năng gan
Sử dụng REVOLADE có thể gây các bất thường về xét nghiệm gan mật. Trong các thử nghiệm lâm sàng với REVOLADE, đã quan sát thấy có tăng alanine aminotransferase (ALT), aspartate aminotransferase (AST) và bilirubin gián tiếp trong huyết thanh (xem Tác dụng không mong muốn).
Sự tăng này hầu hết là nhẹ (Mức độ 1-2), hồi phục được và không kèm theo các Triệu chứng đáng kể trên lâm sàng có thể cho thấy suy chức năng gan. Trong hai nghiên cứu có đối chứng với giả dược, các biến cố bất lợi tăng ALT đã được báo cáo ở 5,7% bệnh nhân điều trị với REVOLADE và 4,0% bệnh nhân điều trị với giả dược.
Đo ALT, AST và bilirubin huyết thanh trước khi bắt đầu REVOLADE, mỗi 2 tuần trong giai đoạn chỉnh liều và hàng tháng sau khi chọn được liều ổn định. Đánh giá các xét nghiệm huyết thanh bất thường của gan bằng cách xét nghiệm lặp lại trong vòng 3 đến 5 ngày. Nếu xác nhận có bất thường, thì theo dõi các xét nghiệm huyết thanh của gan cho đến khi các bất thường được giải quyết, ổn định, hoặc trở lại mức ban đầu. Ngừng dùng REVOLADE nếu mức ALT tăng (> 3 lẩn giới hạn binh thường trên (ULN)) và:
Thận trọng khi dùng REVOLADE cho bệnh nhân bị bệnh gan. Sử dụng liều REVOLADE khởi đầu thấp hơn khi dùng REVOLADE cho bệnh nhân xơ gan (suy gan) (xem Liều lượng và Cách dùng).
Biến chứng Huyết khối/ Huyết khối tắc mạch:
Chảy máu sau khi ngừng dùng REVOLADE:
Đục thủy tinh thể: Trong các nghiên cứu độc tính của REVOLADE ở loài gặm Mầm đã quan sát thấy tình trạng đục thủy tinh thể. Mối liên quan lâm sàng của phát hiện này vẫn chưa được biết. Khuyến cáo nên kiểm tra thường quy tình trạng đục thủy tinh thể cho bệnh nhân.
Bệnh ác tính và sự tiến triển của bệnh ác tính:
Sư hình thành Reticulin tủy xương và ngụy cơ xơ hóa tủy xương:
Phụ nữ thời kỳ mang thai
Eltrombopag không gây quái thai khi nghiên cứu trên chuột cống và thỏ mang thai nhưng gây ra tỉ lệ mắc thấp chứng xương sườn cổ (biến dạng phôi thai) và giảm trọng lượng thai ở liều gây độc cho mẹ (xem Thông tin tiền lâm sàng).
Không có các nghiên cứu có đối chứng tốt và đầy đủ của REVOLADE trên phụ nữ có thai. Ảnh hưởng của REVOLADE trên thai người chưa được biết. Chỉ nên dùng REVOLADE trong thời kì mang thai nếu lợi ích mang lại vượt trội nguy cơ có thể xảy ra đổi với thai nhi.
Phụ nữ thời kỳ cho con bú
Vẫn chưa biết liệu eltrombopag có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Không nên dùng REVOLADE cho các bà mẹ đang cho con bú trừ khi lợi ích mang lại vưọt trội nguy cơ có thể xảy ra đổi với nhũ nhi.
Chưa có nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của REVOLADE lên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Dược lý học của eltrombopag không dự báo trước ảnh hưởng bất lợi lên các hoạt động như thế. Cần chú ý ghi nhớ tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và hồ sơ tác dụng không mong muốn của REVOLADE khi xem xét khả năng thực hiện các công việc đòi hỏi óc phán đoán, các kỹ năng vận động và nhận thức của bệnh nhân
Các cation đa hóa tri (sự tạo phức):
Eltrombopag tạo phức với các cation đa hóa trị như nhôm, calcicalci, sắt, magnesimagnesi, selenselen và kẽm (xem Dược động học). Nên dùng các thuốc kháng acid, các sản phẩm từ sữa và các sản phẩm khác có chứa cation đa hóa trị như các sản phẩm bổ sung khoáng chất cách thời gian dùng REVOLADE ít nhất 4 giờ để tránh sự giảm đáng kể hấp thu eltrombopag (xem Liều lượng và Cách dùng).
Tương tác với thức ăn:
Rosuvastatin:
Lopinavir/ritonavir:
Trong quá trình sử dụng Revolade 25mg thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau:
Tính an toàn và hiệu quả của REVOLADE được chứng minh trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược (TRA102537 RAISE và TRA100773B) ở người lớn bị xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn mạn tính đã được điều trị trước đó. Trong nghiên cứu RAISE, 197 đối tượng được chia ngẫu nhiên 2:1, REVOLADE (iý=435) và giả dược (n=62). Các đối tượng dùng thuốc nghiên cứu đến 6 tháng. Trong nghiên cứu TRA100773B, 114 đối tượng được chia ngẫu nhiên và được điều trị đến 42 ngày với hoặc giả dược (n=38) hoặc REVOLADE (n=76).
Hầu hết các phản ứng không mong muốn liên quan đến REVOLADE là nhẹ đến trung bình, xuất hiện sớm và hiếm khi hạn chế việc điều trị.
Các tác dụng không mong muốn được liệt kê bên dưới theo phân loại hệ thống cơ quan của cơ thể MedDRA và theo tần suất. Phân loại tần suất như sau:
Rất phổ biến > 1/10
Phổ biển > 1/100 và < 1/10
Không phổ biến > 1/1.000 và < 1/100
Hiếm > 1/10.000 và < 1/1.000
Các tác dụng không mong muốn xác định được ở các đối tượng điều trị bằng REVOLADE được thể hiện bên dưới:
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
Phổ biến: Viêm họng, Nhiễm khuẩn đường niệu
Rối loạn hệ tiêu hóa
Rất phổ biến: Buồn nôn, Tiêu chảy
Phổ biến: Khô miệng, Nôn
Rối loạn gan mật
Phổ biến: Tăng aspartate aminotransferase, Tăng alanine aminotransferase
Rối loạn da và mô dưới da
Phổ biến: Rụng tóc, Phát ban
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Phổ biến: Đau lưng, Đau cơ xương vùng ngực, Đau cơ xương, Chứng đau cơ
Dữ liệu sau khi lưu hành thuốc
Hiện chưa có dữ liệu sau lưu hành thuốc.
Thông báo cho bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Triệu chứng và Dấu hiệu
Trong các nghiên cứu lâm sàng, có một báo cáo quá liều trong đó đối tượng uống 5000 mg REVOLADE. Các tác dụng không mong muốn được báo cáo bao gồm phát ban nhẹ, nhịp tim chậm thoáng qua, mệt mỏi và tăng transaminase. Các men gan đo từ Ngày 2 và 18 sau khi dùng thuốc đạt nồng độ đính ở 1,6 lần ULN với AST, 3,9 lần ULN với ALT, và 2,4 lần ULN với bilirubin toàn phần, số lượng tiểu cầu là 672.000/pt ở ngày 18 sau khi dùng thuốc và số lượng tiều cầu tối đa là 929.000/pl. Tất cả các biến cố đều được giải quyết mà không có di chứng sau khi điều trị.
Điều trị
Trong trường hợp quá liều, số lượng tiểu cầu có thể tăng quá mức và gây các biến chứng huyết khối/huyết khối thuyên tắc mạch. Trong trường hợp quá liều, cân nhắc uống chế phẩm có chứa cation kim loại, như calci, nhôm hoặc các chế phẩm magnesi để tạo phức với eltrombopag và do đó hạn chế hấp thu. Theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu Khởi đầu điều trị lại với REVOLADE theo khuyến cáo liều dùng và cách dùng (xem Liều lượng và Cách dùng).
Do eltrombopag bài tiết không đáng kể qua thận và gắn kết nhiều với protein huyết tương, thẩm tách máu/ lọc thận khó có thể đem lại hiệu quả trong việc tăng thải trừ eltrombopag.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Cơ chế tác dụng
Thrombopoietin (TPO) là cytokine chính liên quan đến sự điều hòa việc sản xuất mẫu tiểu cầu (megakaryopoiesis) và sản xuất tiểu cầu, và là phối tử (ligand) nội sinh cho thụ thể thrombcpoietin (TPO-R). Eltrombopag tương tác với vùng xuyên màng của TPO-R ở người và khởi phát truyền đạt tín hiệu tương tự nhưng không giống hệt với sự truyền đạt tín hiệu của thrombopoietin nội sinh (TPO), mà điều này kích thích sự tăng sinh và biệt hóa của các mẫu tiểu cầu (megakaryocyte) từ các tế bào tiền thân của tủy xương.
Tác dụng dược lực học
REVOLADE khác với TPO về tác dụng trên sự kết tập tiểu cầu. Không giống như TPO, điều trị tiểu cầu người bình thường bằng REVOLADE không làm tăng sự kết tập gây ra bởi adenosine diphospate (ADP) hoặc gây ra biểu hiện P-selectin. REVOLADE không đổi kháng với sự kết tập tiều cầu gây ra bởi ADP hay collagen.
Các thông số dược động học của eltrombopag sau khi dùng REVOLADE cho bệnh nhân ITP được thể hiện trong Bảng 1.
Bảng 1: Trung bình nhân (95% Cl) các thông số dược động học của Eltrombopag huyết tương giai đoạn ổn định ở người lớn xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn
| Chế độ liều của REVOLADE | Cmax
(pg/ml) |
AUC(Ũ<)
(ụg.giờ/ml) |
| 50 mg một lần hàng ngày (n=34) | 8,01
(6,73; 9,53) |
108
(88; 134) |
| 75 mg một lần hàng ngày (n=26) | 12,7
(11,0; 14,5) |
168
(143; 198) |
Hấp thu và Sinh khả dụng
Eltrombopag được hấp thu với nồng độ đỉnh đạt được 2 đến 6 giờ sau khi uống. Dùng REVOLADE đồng thời với thuốc kháng acid và các sản phẩm khác có chứa các cation đa hóa trị như sản phẩm từ sữa và sản phẩm bổ sung khoáng chất làm giảm đáng kể nồng độ eltrombopag (xem Liều lượng và Cách dùng, Tương tác). Chưa xác lập được sinh khả dụng tuyệt đối của eltrombopag trên người sau khi uống. Dựa trên sự bài tiết qua nước tiểu và các chất chuyển hóa được thải trừ qua phân, ước tính hấp thu đường uống của các chất liên quan đến thuốc sau khi dùng liều đơn 75 mg dung dịch eltrombopag ít nhất là 52%.
Phân bố
Eltrombopag gắn kết cao với protein huyết tương người (> 99,9%). Eltrombopag là cơ chất cho BCRP, nhưng không là cơ chất cho p-glycoprotein hay OATP1B1.
Chuyển hóa
Eltrombopag được chuyển hóa chủ yếu qua sự phân cắt, oxy hóa và liên hợp với acid glucuronic, glutathione, hoặc cysteine. Trong nghiên cứu gắn đồng vị phóng xạ ở người, eltrombopag chiếm khoảng 64% AUCo-oCủa carbon phóng xạ trong huyết tương. Các chất chuyển hóa chiếm số lượng nhỏ, mỗi chất chiếm < 10% hoạt tính phóng xạ trong huyết tương, sinh ra do sự glucuronid hóa và oxy hóa cũng được phát hiện. Dựa trên nghiên cứu eltrombopag gắn đồng vị phóng xạ ở người, ước tính khoảng 20% liều được chuyển hóa bằng cách oxy hóa. Các nghiên cứu in vitro xác định CYP1A2 và CYP2C8 là các isoenzyme chịu trách nhiệm chuyển hóa oxy hóa, uridine diphosphoglucuronyl transferase UGT1A1 và UGT1A3 lá các isozyme chịu trách nhiệm glucuronid hóa, và vi khuẩn trong đường tiêu hóa dưới có thể có tác dụng đổi với con đường phân cắt.
Thải trừ
Lượng eltrombopag hấp thu được chuyển hóa rộng rãi. Con đường thải trừ chính của eltrombopag là qua phân (59%) và 31% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa. Không phát hiện thấy chất gốc chưa biến đổi (eltrombopag) trong nước tiểu. Eltrombopag dạng không biến đổi bài tiết qua phân chiếm khoảng 20% liều dùng. Thời gian bán thải trong huyết tương của eltrombopag xẩp xỉ 21-32 giờ.
Các tương tác dược động học
Dựa vào một nghiên cứu trên người với eltrombopag được gắn đồng vị phóng xạ, sự glucuronid hóa đóng vai trò nhỏ trong sự chuyển hóa của eltrombopag. Các nghiên cứu trên microsome của tế bào gan người xác nhận UGT1A1 và UGT1A3 là các enzyme chịu trách nhiệm glucuronid hóa eltrombopag. Eltrombopag là chất ức chế một số enzyme UGT in vitro, về mặt lâm sàng, không tiên đoán được trước các tương tác thuốc đáng kể liên quan đến sự glucuronid hóa do sự đóng góp hạn chế của từng enzyme UGT riêng lẻ trong sự glucuronid hóa eltrombopag và các thuốc dùng đồng thời có khả năng tương tác
Dựa vào nghiên cứu trên người với eltrombopag được gắn đồng vị phóng xạ, khoảng 21% liều eltrombopag có thể được chuyển hóa bằng cách oxy hóa. Các nghiên cứu trên microsome tế bào gan người xác định được CYP1A2 và CYP2C8 là các enzyme có vai trò oxy hóa eltrombopag. Trong các nghiên cứu sử dụng microsome tế bào gan người, eltrombopag (lên tới 100 ụM) không cho thấy tác dụng ức chế in vitro nhóm enzyme CYP450 như 1A2, 2A6, 2C19, 2D6, 2E1, 3A4/5, và 4A9/11 và là chất ức chế CYP2C8 và CYP2C9 được đo khi sử dụng paclitaxel và diclofenac làm các cơ chất thăm dò, với IC50 tương ứng là 24,8 p.M (11 pg/ml) và 20,2 ụM (8,9 ụg/ml). Dùng REVOLADE 75 mg một lần mỗi ngày trong 7 ngày cho 24 nam giới khỏe mạnh không gây ức chế hoặc gây ra chuyển hóa các cơ chất thăm dò đối với 1A2 (caffeine), 2C19 (omeprazole), 2C9 (flurbiprofen), hay 3A4 (midazolam) ở người. Không có tương tác đáng kể trên lâm sàng được dự báo khi dùng đồng thời REVOLADE với các cơ chất, các chất cảm ứng hay ức chế CYP450.
Các nghiên cứu in vitro chứng minh rằng eltrombopag là chất ức chế chất vận chuyển OATP1B1, với giá trị IC50 là 2,7 |1M (1,2 ụg/ml) và là chất ức chế chất vận chuyển BCRP với giá trị IC50 là 2,7 pM (1,2 ụg/ml). Dùng REVOLADE 75 mg một lần mỗi ngày trong 5 ngày với liều đơn 10 mg rosuvastatin là cơ chất của OATP1B1 và BCRP cho 39 đối tượng người lớn khỏe mạnh làm tăng rosuvastatin huyết tương Cmax 103% (90% Cl: 82%, 126%) và AUC0.„ 55% (90 % Cl: 42%, 69%) (xem Tương tác).
Dùng liều đơn REVOLADE 75 mg với các thuốc kháng acid chứa cation đa hóa trị (1524 mg nhôm hydroxide và 1425 mg magnesi carbonate) làm giảm AUC eltrombopag huyết tương khoảng 70% (90% Ck 64%, 76%) và Cmax khoảng 70% (90% Cl: 62%, 76%) (xem Liều lượng và Cách dùng, Tương tác).
Dùng liều đơn REVOLADE 50 mg với bữa sáng tiêu chuẩn giàu chất béo và giàu năng lượng bao gồm các sản phẩm từ sữa làm giảm AUCo.ec eltrombopag huyết tương khoảng 59% (90% Cl: 54%, 64%) và cmax khoảng 65% (90% Cl: 59%, 70%). Trong khi đó, thức ăn ít calci [< 50 mg calci] không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ eltrambopạg trong huyết tương, bất kể hàm lượng chất béo và calo như thế nào (xem Liều lượng và Cách dùng, Tương tác).
Các nhóm đối tượng bệnh nhân đặc biệt
Suy thận
Dược động học của eltrombopag đã được nghiên cứu sau khi dùng REVOLADE cho bệnh nhân người lớn bị suy thận. Sau khi dùng liều đơn 50 mg, AUC0.m của eltrombopag giảm 32% (90% Cl: -63%, +26%) ở bệnh nhân suy thận nhẹ, giảm 36% (90% Cl: -66%, +19%) ở bệnh nhân suy thận trung bình, và giảm 60% (90% Cl: -18%, – 80%) ở bệnh nhân suy thận nặng so với người tình nguyện khỏe mạnh. Có xu hướng giảm nồng độ eltrombopag trong huyết tương ở bệnh nhân suy thận, nhưng có sự trùng lặp và biến thiên đáng kể về nồng độ giữa bệnh nhân suy thận và người tình nguyện khỏe mạnh. Nên sử dụng REVOLADE thận trọng và giám sát chặt chẽ ở bệnh nhân suy thận.
Suy gan
Dược động học của eltrombopag đã được nghiên cứu sau khi dùng REVOLADE cho đổi tượng người lớn bị xơ gan (suy gan). Sau khi dùng liều đơn 50 mg, AUCo-ec của eltrombopag tăng khoảng 41% (90% Cl: -13%, +128%) ở những đối tượng suy gan nhẹ, 93% (90% Cl: 19%, 213%) ờ những đối tượng suy gan trung bình, và 80% (90% Cl: 11%, 192%) ở những đối tượng suy gan nặng so với người tình nguyện khỏe mạnh. CÓ sự trùng lặp và biến thiên đáng kể về nồng độ giữa các đối tượng suy gan và người tình nguyện khỏe mạnh.
Ảnh hưởng của suy gan trên dược động học của eltrombopag sau khi dùng lặp lạl đã được đánh giá qua phân tích dược động học quần thể ở 28 người lớn khỏe mạnh và 79 bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính. Dựa trên những ước tính từ phàn tích dược động học quần thể, bệnh nhân xơ gan (suy gan) có giá trị AUC (Q.T) eltrombopag huyết tương cao hơn so với người tình nguyện khỏe mạnh, và AUC(ũ-r) tăng cùng với sự tăng điểm số Child-Pugh. So với người tình nguyện khỏe mạnh, bệnh nhân suy gan nhẹ có giá trị AUC(0-t> eltrombopag huyết tương cao hơn khoảng 87% đến 110% và bệnh nhân suy gan trung bình có giá trị AUC(Ũ-T) eltrombopag huyết tương cao hơn khoảng 141% đến 240%.
Nên sử dụng REVOLADE thận trọng và giám sát chặt chẽ ở bệnh nhân xơ gan (suy gan) (xem Cảnh báo và Thận trọng). Đối với bệnh nhân suy gan nhẹ, trung bình và nặng, khởi đầu REVOLADE ở liều thấp 25 mg một lần mỗi ngày (xem Liều lượng và Cách dùng).
Chủng tộc
Ảnh hưởng của chủng tộc Đông Á đối với dược động học của eltrombopag đã được đánh giá bằng cách sử dụng phân tích dược động học quần thể trên 111 người lớn khỏe mạnh (31 bệnh nhân Đông Á) và 88 bệnh nhân ITP (18 bệnh nhân Đông Á). Dựa trên ước tính từ phân tích dược động học quần thể, những bệnh nhãn ITP người Đông Á (tức là Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc) có giá trị AUC(U^) eltrombopag huyết tương cao hơn khoảng 87% so với bệnh nhân không phải người Đông Á, chủ yếu là người da trắng, khi chưa có hiệu chỉnh cho sự khác biệt về trọng lượng cơ thể (xem Liều lượng và Cách dùng).
Giới tính
Ảnh hưởng của giới tính đối với dược động học của eltrombopag đã được đánh giá bằng cách sử dụng phân tích dược động học quần thể trên 111 người lớn khỏe mạnh (14 nữ) và 88 bệnh nhân ITP (57 nữ). Dựa trên ước tính từ phân tích dược động học quần thể, bệnh nhân ITP nữ có AUCfo.j) eltrombopag huyết tương cao hơn khoảng 50% so với bệnh nhân nam, khi chưa có hiệu chỉnh theo cho khác biệt trọng lượng cơ thể.
Các nghiên cứu lâm sàng
Tính an toàn và hiệu quả của REVOLADE đã được chứng minh trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược (TRA102537 RAISE và TRA100773B) và hai nghiên cứu nhân mở (REPEAT TRA108057 và EXTEND TRA105325) ở bệnh nhân người lớn bị ITP mạn tính đã được điều trị trước đó.
Các nghiên cứu lâm sàng mù đôi có đối chứng với giả dược
TRA102537: Trong nghiên cửu RAISE, tiêu chí hiệu quả chính là khả năng đạt được số lượng tiểu cầu 50.000/pl và < 400.000/pl trong 6 tháng điều trị với những đối tượng dùng REVOLADE so với giả dược. 197 đối tượng được chia ngẫu nhiên 2:1, REVOLADE (n=135) so với giả dược (n=62), và được phân tầng dựa trên tình trạng cắt lách, sử dụng thuốc điều trị ITP lúc ban đầu và số lượng tiểu cầu ban đầu. Các đối tượng dùng thuốc nghiên cứu đến 6 tháng, trong suốt thời gian này, liều REVOLADE có thể được điều chỉnh dựa trên số lượng tiểu cầu của từng cá nhân. Ngoài ra, đối tượng có thể giảm dần các thuốc điều trị ITP đi kèm và được điều trị cần thiết khác theo chỉ dẫn bởi tiêu chuẩn chăm sóc ở nước sở tại.
Khả năng đạt số lượng tiểu cầu giữa 50.000/ụl và 400.000/ụl trong suốt 6 tháng điều trị cao hơn 8 lần ở đối tượng điều trị bằng REVOLADE so với đối tượng điều trị bằng giả dược (tỉ số chênh (odds ratio): 8,2 [99% Cl: 3,59; 18,73] p = < 0,001). Trung vị số lượng tiểu cầu được duy trì trên 50. OOO/ụl ở tất cả các lần thăm khám trong khi điều trị bắt đầu ở Ngày 15 trong nhóm REVOLADE; ngược lại, trung vị số lượng tiểu cầu ở nhóm giả dược luôn dưới 30.000/pl trong suốt nghiên cứu.
Khi bắt đầu nghiên cứu, 77% đối tượng trong nhóm giả dược và 73% đối tượng trong nhóm REVOLADE đã báo cáo có chảy máu (cấp độ 1 – 4 theo WHO); chảy máu đáng kể trên lâm sàng (cắp độ theo WHO 2-4) lúc bắt đầu nghiên cứu được báo cáo ở 28% đối tượng trong nhóm giả dược và 22% đối tượng trong nhóm REVOLADE. Tỉ tệ đối tượng có bất kỳ chảy máu nào (Cấp độ 1-4) và chảy máu đáng kể trên lâm sang cấp độ 2-4) giảm so với ban đầu khoảng 50% trong suốt 6 tháng điều trị ở các đối tượng được điều trị bằng REVOLADE. Khi so với nhóm giả dược, khả năng bị chảy máu bất kỳ (Cấp độ 1-4) và khả năng bị chảy máu đáng kể trên lâm sàng (Cấp độ 2-4) là thấp hơn 76% và 65% ở các đối tượng được điều trị bằng REVOLADE so với các đối tượng được điều trị bằng giả dược (p < 0,001).
Số đối tượng dùng liệu pháp REVOLADE được giảm hoặc ngưng dùng các liệu pháp ITP ban đầu nhiều hơn đáng kể so với nhóm giả dược (59% so với 32%; p < 0,016).
Số đối tượng điều trị bằng REVOLADE cần điều trị cần thiết khác ít hơn đáng kể so với các đối tượng điều trị bằng giả dược [19% so với 40%; p = 0,001], 4 đối tượng dùng giả dược và 14 đối tượng dùng REVOLADE có ít nhất 1 thủ thuật phải có cầm máu (được xác định là thủ thuật ngoại khoa hoặc chẩn đoán xâm lấn) trong suốt nghiên cứu. Số đối tượng điều trị bằng REVOLADE (29%) cần điều trị cần thiết khác để kiểm soát cầm máu trong thủ thuật ít hơn so với các đối tượng điều trị bằng giả dược (50%).
Về mặt cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, đã quan sát thấy sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê so với ban đầu ở nhóm REVOLADE về triệu chứng mệt mỏi, bao gồm mức độ nặng và tác động trên các hoạt động hàng ngày đang bị ảnh hưởng của tình trạng giảm tiểu cầu và các mối lo ngại do giảm tiểu cầu [đánh giá bởi thang đo phụ về sức sống của bảng kiểm SF36, các câu hỏi về sức sống và động lực, và nhóm 6 mục trích từ thang đo phụ về tác động của giảm tiểu cầu của thang FAC1T- Th]. Khi so sánh nhóm REVOLADE với nhóm giả dược, đã quan sát thấy có sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê đối với các hoạt động bị ảnh hưởng bởi sự giảm tiểu cầu và những quan ngại đặc biệt liên quan đến động lực, sức sống và triệu chứng mệt mỏi, cũng như về mặt thể chất và xúc cảm và sức khỏe tinh thần nói chung. Khả năng cải thiện có ý nghĩa về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe điều trị ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng REVOLADE lớn hơn đáng kể so với nhóm giả dược.
TRA100773B: Trong nghiên cứu TRA100773B, tiêu chí hiệu quả chính là tỉ lệ có đáp ứng, được định nghĩa là bệnh nhân có tăng số lượng tiểu cầu đến 50.000/p.l vào Ngày 43 so với trị số ban đầu ở mức < 30.000/pl; những bệnh nhân đã rút khỏi nghiên cứu sớm do số lượng tiểu cầu > 200.000/pil được xem là bệnh nhân có đáp ứng, những bệnh nhân ngừng điều trị vì bất kì lý do nào khác được xem là không đáp ứng bất kể số lượng tiểu cầu thế nào. Tổng số 114 đối tượng bị ITP mạn tính được điều trị trước đó đã được chia ngẫu nhiên 2:1 vào nghiên cứu, với 76 đối tượng ngẫu nhiên dùng REVOLADE và 38 đối tượng ngẫu nhiên dùng giả dược.
59% đối tượng dùng REVOLADE có đáp ứng, so với 16% đối tượng dùng giả dược. Khả năng đáp ứng ở các đối tượng điều trị bằng REVOLADE lớn hơn 9 lần so với giả dược (tỉ số chênh (Odds Ratio): 9,6 [95 % Cl: 3,31; 27,86] p< 0,001). Lú< bắt đầu nghiên cứu, 61% đối tượng trong nhóm REVOLADE và 66% đối tượng trong nhóm giả dược đã báo cáo có chảy máu (Cấp độ 1-4). ở ngày 43, 39% đối tượng trong nhóm REVOLADE có chảy máu so với 60% đối tượng trong nhóm giả dược. Phân tích qua giai đoạn điều trị sử dụng mô hình đo lường lặp lại đối với dữ liệu nhị phân xác nhận rằng tỉ lệ đối tượng dùng REVOLADE có chảy máu (Cấp độ 1-4) ở bất kì thời điểm nào trong đợt điều trị (Ngày 8 đển Ngày 43) thấp hơn so với các đối tượng ở nhóm giả dược (OR=0,49; 95% CI=[0,26; 0,89], p = 0,021). Hai đối tượng nhóm giả dược và một đối tượng nhóm REVOLADE có ít nhất 1 thủ thuật phải có cầm máu trong thời gian nghiên cứu.
Trong cả hai nghiên cứu RAISE và TRA100773B, đáp ứng với REVOLADE so với giả dược là như nhau bất kể sử dụng thuốc điều trị ITP nào, tình trạng cắt lách và số lượng tiểu cầu ban đầu (í 15.000/ụl, > 15.0Ũ0/pi) khi phân nhóm ngẫu nhiên.
Các nghiên cứu nhãn mở
TRA108057: REPEAT là nghiên cứu nhãn mờ, liều lặp lại đánh giá hiệu quả, tính an toàn và tính nhất quán trong đáp ứng sau khi dùng liều lặp lại, ngắt quãng, liều ngắn hạn của REVOLADE qua 3 chu kỳ điều trị ở người lớn bị ITP mạn tính đã được điều trị trước đó. Một chu kỳ được định nghĩa là một đợt điều trị tới 6 tuần, tiếp theo đó là đợt không điều trị tới 4 tuần. Tiêu chí chính trong nghiên cứu REPEAT là tỉ lệ đối tượng đạt số lượng tiểu cầu > 50.000/ụl và ít nhất gấp 2 lần số lượng tiểu cầu ban đầu trong Chu kỳ 2 hoặc 3, với điều kiện đạt được đáp ứng này trong Chu kỳ 1.
| Có đánh giá trong Chu kỳ 1, n | REVOLADE 50 mg (N=66)
65 |
| Số bệnh nhân đáp ứng trong Chu kỳ 1, n (%) | 52(80) |
| Có đánh giá trong Chu kỳ 2 hoặc 3, n | 52 |
| Số bệnh nhân đáp ứng trong Chu kỳ 1 và trong Chu kỳ 2 hoặc 3, n (%) | 45 (87) |
| Tỉ lệ | 0,87 |
| 95 % Cl đối với Tỉ lệ (Phương pháp chính xác) | (0,74; 0,94) |
Trong số 52 đối tượng đáp ứng trong Chu kỳ 1, 33 (63%) đạt số lượng tiểu cầu > 50.000 ụl và ít nhất gấp 2 lần số lượng tiểu cầu ban đầu vào Ngày 8 ở Chu kỳ 1; vào Ngày 15, 37 (79%) trong số 47 đổi tượng có đánh giá đạt được mức đáp ứng này.
Sự giảm về tình trạng chảy máu bất kỳ cấp độ nào (Cấp độ 1 – 4 theo WHO) và chảy máu đáng kể trên lâm sàng (Cấp độ 2 – 4 theo WHO) trong các giai đoạn điều trị được thể hiện trong mỗi chu kỳ. ở lần thăm khám ban đầu của Chu kỳ 1, 50% đối tượng đã báo cáo có chảy máu và 19% đối tượng đã báo cáo có chảy máu đáng kể trên lâm sàng, ở lần thăm khám vào Ngày 43 của Chu kỳ 1, tỉ lệ đối tượng chảy máu giảm; 12% đối tượng đã báo cáo chảy máu vả 0% đối tượng đã báo cáo chảy máu đáng kể trên lâm sàng. Các kết quả là tương tự trong các chu kỳ điều trị tiếp theo.
Tám đối tượng đã qua được thành công 10 thủ thuật cần có cầm máu mà không cần điều trị bổ sung để tăng số lượng tiểu cầu và không có chảy máu ngoài dự kiến nào xảy ra.
TRA105325′. EXTEND là một nghiên cứu mở rộng nhãn mở để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của REVOLADE trên những đối tượng bị ITP mạn tính mà đã được tuyển chọn vào thử nghiệm REVOLADE trước đó. Trong nghiên cứu này, các đối tượng được phép thay đổi liều dùng của thuốc nghiên cứu cũng như giảm hoặc loại bỏ các thuốc điều trị ITP dùng đồng thời.
REVOLADE đã được sử dụng cho 207 bệnh nhân; 104 bệnh nhân hoàn tất 3 tháng điều trị, 74 bệnh nhân hoàn tất 6 tháng điều trị và 27 bệnh nhân hoàn tất 1 năm điều trị. Trung vị số lượng tiểu cầu ban đầu là 18.000/pl trước khi dùng REVOLADE. Trung vị số lượng tiểu cầu tại 3, 6 và 9 tháng trong nghiên cứu tương ứng lần lượt là 86 ooo/pl, 67.000/ụl và 92.500/pl. Trung vị liều REVOLADE hàng ngày sau 6 tháng điều trị là 50 mg (n=74).
Khi bắt đầu nghiên cứu, 59% đối tượng có bất kỳ tình trạng chảy máu nào (Cấp độ chảy máu 1-4 theo WHO) và 18% có chảy máu đáng kể trên lâm sàng. Tỉ lệ đối tượng có bất kỳ tình trạng chảy máu nào và chảy máu đáng kể trên lâm sàng giảm so với ban đầu khoảng 50% trong phần lớn các đánh giá tới 1 năm.
70% đối tượng đã giảm thuốc điều trị ban đầu đã ngừng vĩnh viễn hoặc có sự giảm đáng kể thuốc điều trị ITP ban đầu và không cần bất kỳ điều trị cấp cứu nào sau đó. 65% đối tượng này duy trì được sự ngừng điều trị hoặc giảm điều trị trong ít nhất 24 tuần. 61% đối tượng hoàn toàn ngừng dùng ít nhất một thuốc điều trị ITP ban đầu, và 55% đối tượng ngừng vĩnh viễn tất cả các thuốc điều trị ITP ban đầu, mà không phải điều trị cần thiết khác sau đó
24 đối tượng đã trải qua ít nhất một thủ thuật cần có cầm máu trong suốt nghiên cứu. Không có đối tượng nào có biến chứng chảy máu ngoài dự kiến liên quan đến thủ thuật trong thời gian nghiên cứu.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Eltrombopag không gây ung thư trên chuột nhắt ở liều lên tới 75 mg/kg/ngày hoặc chuột cống ở liều lên tới 40 mg/kg/ngày (phơi nhiễm tương ứng lên tới 4 và 5 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở người dựa trên AUC). Eltrombopag không gây đột biến hoặc phá vỡ nhiễm sắc thể trong thử nghiệm phân tích đột biến vi khuẩn hoặc trong hai thử nghiệm phân tích in vivo ở chuột cống (micronucleus và tổng hợp DNA không theo chương trình, gấp 10 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở người dựa trên CmaJ<). Trong thử nghiệm phân tích ung thư bạch huyết in vitro trên chuột, eltrombopag gần dương tính (tần suất đột biến tăng < 3 lần). Những phát hiện in vitro và in vivo này gợi ý rằng REVOLADE không gây nguy cơ độc tính gen trên con người.
Eltrombopag không gây quái thai ở chuột cống hay thỏ Eltrombopag không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của con cái, sự phát triển phôi thời kì sớm hoặc sự phát triển của phôi thai ở chuột cống ở liều lên tới 20 mg/kg/ngày (2 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở người dựa trên AUC). Ngoài ra cũng không có tác động lên sự phát triển phôi thai ở thỏ ở liều lên tới 150 mg/kg/ngày, liều cao nhất được thử (0,5 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC). Tuy nhiên, ở liều độc cho chuột cống mẹ 60 mg/kg/ngày (6 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC), điều trị bằng eltrombopag có liên quan đến tình trạng chết phôi (tăng mất phôi trước hoặc sau khi làm tổ) trong nghiên cứu về khả năng sinh sản của chuột cái, tỉ lệ thấp bị chứng xương sườn cổ (một biến dạng thai không phải quái thai) trong nghiên cứu về sự phát triển của phôi thai và giảm trọng lượng thai trong cả hai nghiên cứu. Eltrombopag không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chuột cống đực ở liều lên tới 40 mg/kg/ngày, liều thứ cao nhất (3 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC).
Trong nghiên cứu in vitro, eltrombopag có gây nhiễm độc ánh sáng và phá vỡ nhiễm sắc thể do ánh sáng. Tuy nhiên, trên in vitro, tác dụng gây phá vỡ nhiễm sắc thể do ánh sáng chỉ quan sát thấy ở nồng độ thuốc gây độc tế bào (> 15 ụg/ml) khi tiếp xúc với ánh sáng tử ngoại cường độ mạnh (30 MED, liều tối thiểu gây ban đỏ). Không có bằng chứng về khả năng gây nhiễm độc da do ánh sáng trong nghiên cứu in vivo ở chuột nhắt khi tiếp xúc với liều lên tới 1 ũ lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở người dựa trên AUC hoặc nhiễm độc mắt do ánh sáng ở chuột nhắt hoặc chuột cống khi tiếp xúc với liều tương ứng lần lượt lên tới 11 và 6,0 lần phơi nhiễm trên lâm sàng ở người dựa trên AUC. Hơn nữa, nghiên cứu dược lý lâm sàng ở 36 đối tượng không cho thấy bằng chứng tăng nhạy cảm ánh sáng sau khi dùng REVOLADE 75 mg một lần mỗi ngày trong 6 ngày. Điều này được đo bởi chỉ số nhiễm độc ánh sáng chậm.
Đục thủy tinh thể liên quan đến điều trị đã được phát hiện ở loài gặm nhấm và có phụ thuộc liều và thời gian, ở liều 6 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC, quan sát thấy đục thủy tinh thể ở chuột nhắt sau 6 tuần và chuột cống sau 28 tuần dùng thuốc, ở liều Ỉ4 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên ALIC, quan sát thấy đục thủy tinh thể ở chuột nhắt sau 13 tuần và ở chuột cống sau 39 tuần dùng thuốc. Chưa quan sát thấy đục thủy tinh thể ở chó sau 52 tuần dùng thuốc ở liều gấp 2 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC. Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này vẫn chưa được biết (xem Cảnh báo và Thận trọng).
Đã quan sát thấy độc tính trên ống thận trong các nghiên cứu kéo dài tới 14 ngày trên chuột nhắt và chuột cống ở các mức phơi nhiễm nói chung liên quan đển tình trạng thương tật và tử vong. Độc tinh trên ổng thận cũng được quan sát thấy trong nghiên cứu về khả năng gây ung thư theo đường uống kéo dài 2 năm trên chuột nhắt ở các liều 25, 75 và 150 mg/kg/ngày. Các tác dụng này ít nghiêm trọng hơn ở liều thấp hơn và đặc trưng bởi một loạt thay đồi có thể hồi phục. Phơi nhiễm ở liều thấp nhất là 1,2 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên ALIC. Các ảnh hưởng trên thận không quan sát thấy ở chuột cống sau 28 tuần hay ở chó sau 52 tuần ở mức phơi nhiễm tương ứng là 4 và 2 lần phơi nhiễm lâm sàng ở người dựa trên AUC. Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này vẫn chưa được biết.
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
24 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 4 vỉ x 7 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Thuốc Revolade 25mg có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.
Thuốc Revolade 25mg có giá bán trên thị trường hiện nay là: 388.781đ/ hộp 28 viên. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VN2-526-16
Glaxo Operation UK Ltd.
Địa chỉ: Priory Street, Ware, Hertfordshire, SG120DJ Vương quốc Anh
Anh
Không hiển thị thông báo này lần sau.