Giá liên hệ
Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Ba Lan |
| Quy cách | Hộp 1 vỉ 10 ống |
| Thương hiệu | Works Polpharma |
| Chuyên mục | Kháng Viêm |
| Thành phần | Linezolid |
Lichaunox 2mg/ml được cấp phép bởi Cục quản lý Dược – Bộ Y tế, được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm truyền với công dụng điều trị nhiễm trùng như viêm phổi, nhiễm khuẩn da,…
Thuốc Lichaunox 2mg/ml được chỉ địnhlà một kháng sính thuộc nhóm oxazolidinones. Thuốc được chỉ định dùng cho các nhiễm trùng: viêm phổi cộng đồng: viêm phổi bệnh viện; nhiễm khuẩn da và các tổ chức dưới da ở người lớn; nhiễm khuẩn gây bởi Enterococcus faecium đã kháng vancomycin, bao gồm cả những trường hợp có nhiễm khuẩn huyết đồng thời.
Linezolid 2mg/ml
Tá dược: Citric acid anhydrous, natri citrate dihydrate, glucose monohydrate apyrogenic, natri hydroxide, hydrochloric acid, nước cất pha tiêm
Thuốc Lichaunox 2mg/ml cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng.
Lichaunox được dùng qua đường truyền tĩnh mạch từ 30 đến 120 phút. Không dùng chung dường truyền, không thêm chất khác vào dung dịch truyền. Các dịch truyền tương thích: natri ciorid 0.9%, Ringer Lactat. Nếu bệnh nhân đang lọc máu thận, nên sứ dụng Lichaunox sau khi đã lọc máu.
Trong khi điều trị Lichaunox, bác sĩ sẽ thực hiện xét nghiệm máu thường xuyên để theo dõi công thức máu. Bác sĩ theo dõi thị lực cùa bệnh nhàn nếu bệnh nhân dùng thuốc dài hơn 28 ngày.
Người lớn
Liều thông thường cho người lớn (18 tuổi trở lên): 300 ml (600 mg linezolid) hai lần mỗi ngày.
Một đợt điều trị thường kéo dài 10-ỉ4 ngày, nhưng có thề kéo dài đến 28 ngày. An toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác lập với thời gian điều trị dài hơn 28 ngày. Bác sĩ sẽ quyết định thời gian điều trị.
Trẻ em và thanh thiêu niên
Lichaunox được khuyến cáo không sữ dụng cho trẻ em và trẻ vị thành niên (dưới 18 tuổi).
Người cao tuổi:
Không cần điều chỉnh liều.
Suy thận:
Không cần điều chỉnh liều (xem phần Cánh báo đặc biệt và các biện pháp phòng ngừa đề sử dụng và Dược động học).
Suy thận nặng (ví dụ CLCR <30 ml /phút):
Không cần điều chỉnh liều. Do ý nghĩa lâm sàng không rõ ràng cùa việc tiếp xúc nhiều hơn (gấp 10 lần) đối với hai chất chuyển hóa chính cùa linezolid ỡ những bệnh nhân suy thận nặng nên nên sừ dụng linezolid với sự thận trọng đặc biệt ớ những bệnh nhân này và chi khi lợi ích dự kiến được coi là lớn hơn rủi ro lý thuyết. Khi khoáng 30% liều linezolid dược loại bỏ trong 3 giờ thẩm phân máu. linezolid nên được đưa ra sau khi lọc máu ở những bệnh nhân được điều trị như vậy. Các chất chuyển hoá chính của linezolid được loại bỏ ở một mức độ nào đó bằng cách thẩm tách máu, nhưng nồng độ các chất chuyển hóa này vẫn cao hơn đáng kề so với lọc máu so với những bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ đển trung bình. Do đó, nên sử dụng linezolid với sự thận trọng đặc biệt ở những bệnh nhân suy thận nậng đang trãi qua cuộc chạy thận và chi khi lợi ích dự kiến được coỉ là lớn hơn nguy cơ lý thuyết. Cho đến nay, không có kinh nghiệm về quản lý nezolid đối với bệnh nhân đang trải qua cuộc chạy thận phúc mạc liên tục (CAPD) hoặc các phương pháp điều trị thay thế cho suy thận (không phải thẩm tách máu).
Suy gan:
Không cần điều chỉnh liều. Tuy nhiên, có những dữ liệu lầm sàng hạn chế và khuyên ràng nên sứ dụng linezolid ờ những bệnh nhân này chi khi lợi ích dự kiến được coi là lớn hơn nguy cơ lý thuyết (xem phần Cảnh báo đặc biệt và các biện pháp phòng ngừa để sử dụng và Dược động học).
Bị dị ứng (quá mẫn cảm) với linezolid hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc
Đang dùng hoặc đã dùng trong vòng 2 tuần gần đây thuốc chống monoamine oxidase (như phenelzine, isocarboxazid, selegilin, moclobemide). Những loại thuốc này có thể được sử dụng để điều trị chứng trầm cảm ở bệnh nhân Parksinson.
Đang cho con bú. Thuốc có thể vảo sữa mẹ và gây ảnh hưởng đến trẻ.
Thuốc Lichaunox không phù hợp cho các bệnh nhân khi bệnh nhân có một trong các triệu chứng sau. Trong những trường hợp này bệnh nhân nên thông báo với bác sĩ để bác sĩ quyết định cần kiểm tra sức khỏe tổng quát và huyết áp của bệnh nhân trước và điều trị, hoặc quyết định theo cách điều trị khác tốt hơn.
Bị huyết áp cao, và đang dùng thuốc huyết áp
Được chần đoán bị cường giáp
U tuyến thượng thận (phaeochromocytoma) hoặc hội chứng carcinoid (gây ra bởi khối u cùa hệ thống hormone với các triệu chứng như tiêu chày, da đỏ bừng, thở khò khè)
Bị trầm cảm, hưng cảm, rối loạn schizoaffective, rối loạn tâm thần hoặc một số vấn để tâm thần khác
Trong quá trình sử dụng Lichaunox 2mg/ml, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:
Ức chế tủy xương: ức chế tủy xương (bao gồm thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm toàn thể huyết cầu và giảm tiểu cầu) đã được ghi nhận trên một số bệnh nhân dùng linezolid. Trong những trường hợp đã được biết, sau khi linezolid được ngưng sử dụng, các chỉ số huyết học bị ảnh hường đã được tăng lên trở ve các mức trước khi điều trị. Nguy cơ xảy ra những tác động này có khả năng liên quan đến thời gian điều trị. Bệnh nhân lớn tuổi được điều trị bằơ’ng linezolid có thể cỏ nguy cơ bị các bệnh rối loạn tạo máu cao hơn bệnh nhân trẻ. Giảm tiểu cầu cỏ thể xảy ra thường xuyên hơn ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng, dù có được hay khồng được thẩm tách máu. Vì thể, nên giám sát chặt chẽ công thức máu trên những bệnh nhân: đã sẵn bị thiếu máu, giảm bạch cầu hạt hoặc giảm tiểu cầu; đang dùng đồng thời các thuỗc cỏ thể gây giảm hemoglobin, giảm số lượng tế bào máu hoặc giảm chức năng hay số lượng tiểu cầu; bị suy giảm chức năng thận nặng; dùng linezolid nhiều hơn 10-14 ngày. Chì nên dùng linezolid cho những bệnh nhân trên nếu có thể giám sát chặt chẽ nồng độ hemoglobin, số lượng tể bào máu và tiểu cầu.
Nếu có sự ức chế tùy xương đáng kể xảy ra khi điều trị bằng linezolid, nên ngưng dùng trừ những trường hợp thật sự cần thiết phải tiếp tục điều trị, và trong những trường hợp đó, cần thực hiện giảm sát chặt chẽ công thức máu và có chiến lược quản lý ca bệnh hợp lý.
Ngoài ra, xét nghiệm công thức máu đầy đủ (bao gồm nồng độ hemoglobin, tiểu cầu, số lượng bạch cầu tổng và từng loại bạch cầu) nên được theo dõi hàng tuần ở những bệnh nhân dùng linezolid bât kê công thức máu ban đầu lả bao nhiêu.
ở những nghiên cứu sử dụng thuốc nhân đạo, tỉ lệ mắc mới các trường hợp thiếu máu nghiêm trọng cao hơn ở những bệnh nhân dùng linezolid vượt quá thời gian khuyển cảo tối đa 28 ngày. Các bệnh nhân này hầu như cần phải truyền máu. Các trường hợp thiếu máu cần phải truyền máu cũng đã được báo cáo sau khi thuốc lưu hành, với phần lởn các trường hợp xảy ra ở bệnh nhân sử dụng linezolid nhiều hơn 28 ngày.
Đã có những trường hợp thiếu máu hồng cầu to được báo cáo sau khi thuốc lưu hành, ở những trường hợp biết rõ thời điểm bẳt đầu có triệu chứng, đa số bệnh nhân đã dùng linezolid nhiều hơn 28 ngày. Đa số bệnh nhân hồi phục hoàn toàn hoặc một phần sau khi ngưng dùng linezoid dù có được điều trị thiếu máu hay không.
Chênh lệch về tỉ lệ tử vong trong một thử nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân nhiễm khuẫn huyết do vi khuẩn Gram (+) liên quan đến việc đặt ống thông: Tỉ lệ tử vong cao hơn đã được thấy trên bệnh nhân điều trị bằng linezolid, so với vancomycin/dicloxacillin/oxacillin, trong một nghiên cứu nhãn mở trên bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng có đặt ống thông nội mạch [78/363 (21,5%) so với 58/363 (16,0%)]. Yếu tố chính ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong là tình trạng nhiễm vi khuẩn Gram (+) từ ban đầu. Tỉ lệ tử vong tương tự nhau ở những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn chì do vi khuẩn Gram (+) (tỉ số chênh 0,96; khoảng tin cậy 95%: 0,58-1,59) nhưng cao hơn đáng kể (p=0,0162) ở nhánh linezolid với những bệnh nhân có hoặc không nhiêm các vi khuẩn gây bệnh khác lúc ban đầu (tỉ sổ chênh 2,48; khoáng tin cậy 95%: 1,38-4,46). Chênh lệch lớn nhất xảy ra trong khi điều trị và sau khi ngưng dùng thuốc 7 ngày. Ở nhánh linezolid cỏ nhiều bệnh nhân nhiễm vi khuẩn Gram (-) hơn trong khi nghiên cửu và có nhiều ca tử vong do nhiễm vi khuẩn Gram (-) và nhiễm đa khuẩn hơn. Vì thế, đối với nhiễm khuẩn da và mô mềm biến chứng, chỉ nên dùng linezolid cho bệnh nhân đã xác định đươc hoặc có khả năng nhiễm đồng thời vi khuẩn Gram (-) nếu không có lựa chọn điều trị thay thế nào khác (xem mục Chỉ định). Trong những trường hợp đó, cần khởi đầu điều trị đồng thời với thuốc kháng vi khuẩn Gram (-).
Tiêu chảy và viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh: Viêm đại tràng già mạc đã được ghi nhận với hầu hết các loại thuốc kháng sinh, bao gồm cả linezolid. Vì thế, cần thiết phải xem xét chẩn đoán này ở bệnh nhân có bất kỳ thuốc kháng sinh nào. Trong trường hợp nghi ngờ hoặc chắc chắn viêm đại tràng liên quan đến thuốc kháng sinh, cần ngưng dùng linezolid cần xây dựng những biện pháp quản lý phù hợp với các ca bệnh.
Tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh và viêm đại tràng liên quan đến thuốc kháng sinh, bao gồm viêm đại tràng giá mạc và tiêu chảy liên quan đến Clostridium difficile (CDAD), đã được ghi nhận khi sứ dụng hầu hết các loại thuốc kháng sinh, bao gồm cà linezolid, và có thế dao động từ tiêu chảy nhẹ đến viêm đại tràng gây từ vong. Vì thê, cần thiết phải xem xét chần đoán này ở bệnh nhàn có tiêu chảy nặng trong và sau khi dùng linezolid. Trong trường hợp nghi vấn hoặc chắc chắn tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh hoặc viêm đại tràng liên quan đến thuốc khảng sinh, cần dừng ngay các thuốc kháng sinh, bao gồm cá linezolid, và bắt đằu thực hiên ngay những biện phảp điều trị phù hợp.
Chóng chi định các thuốc ức chế nhu động ruột trong trường hợp này.
Nhiễm acid lactic: Nhiễm acid lactic đã được báo cáo khi sứ dụng linezolid. Bệnh nhàn có những triệu chứng và dấu hiệu nhiễm acỉd chuyển hỏa bao gồm buồn nôn và nôn nhiều lần, đau bụng, nồng độ bicarbonat thấp, tàng thông khí trong khi dùng ìinezolid cần được xử lý y tế ngay lập tức. Nếu xảy ra nhiễm acid lactic, cần cân nhắc lợi ích có vượt trội so với nguy cơ tiềm tàng hay không trước khi quyết định tiếp tục sử dụng linezolid.
Suy chức năng ty thể: Linezolid ức chế việc tổng hợp các protein cùa ty thể. Các biến cố bất lợi, ví dụ như nhiễm acid lactic, thiếu máu và bệnh thần kinh (rối loạn thần kinh thị giác và thần kinh ngoại biên), có thể xảy ra do sự ức chế này; những biến cố này thường phố biến hơn nếu sứ dụng thuốc nhiều hơn 28 ngày.
Hội chứng serotonin: Báo cáo tự phát về hội chứng serotonin xảy ra khi dùng đồng thời linezolid với các thuốc có liên quan đến serotonin (serotonergic), bao gồm các thuốc chống trầm càm. ví dụ như các chất ức chể tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSR.1) đã dược báo cáo. Vì thế chống chỉ định việc sử dụng đồng thời linezolid và các thuốc serotonergic (xem mục Chống chì định) trừ khi việc dùng đồng thời linezolid và các thuốc serotonergic là thật cần thiết. Trong những trường hợp đó, bệnh nhân cần được theo dõi kỹ các dấu hiệu và triệu chứng cũa hội chứng serotonin, ví dụ như rối loạn nhận thức, sốt cao, tăng phản xạ hoặc mất khả năng phối hợp. Neu các dấu hiệu hay triệu chửng nảy xảy ra, bác sĩ cần xem xét dừng một trong hai hoặc cá hai loại thuốc; nếu ngưng dùng các thuốc serotonergic, có thề xảy ra các triệu chứng do việc ngừng thuốc.
Rối loạn thần kình ngoại vi và thần kinh thị giác: Rối loạn thần kinh ngoại vỉ, cũng như rối loạn thằn kinh thị giác và viêm thần kinh thị giác đôi khi dẫn đển suy giảm thị lực, đã được ghi nhận trên các bệnh nhân dùng Lichaunox, chủ yếu thấy trên các bệnh nhản dùng thuốc dài hơn thời gian khuyến cáo tối đa 28 ngày.
Tẩt cả bệnh nhân cần được khuyên phải báo cáo các triệu chứng suy giàm thị lực, như thay đồi thị lực, những thay đổi về khá năng nhìn màu sẩc, nhìn mờ hoặc vùng khuyết trong thị trường. Trong những trường hợp đó, cần có đánh giá ngay lập tức và nếu cần thiết thì chuyển bệnh nhân đển bác sĩ chuyên nhãn khoa. Nếu bệnh nhân đã sử dụng Lichaunox lâu hơn thời gian khuyến cáo 28 ngày, cần giám sát chức năng thị giác cùa họ thường xuyên.
Nếu xuất hiện các bệnh rối loạn thần kinh ngoại biên và thần kình thị giác, cần cân nhắc lợi ích có vượt trội so với nguy cơ tiềm tàng hay không trước khi quyết định tiếp tục sừ dụng Lichaunox.
Nguy cơ rối loạn thần kinh có thể tâng lên khi linezolid được sử dụng ở những bệnh nhân đang dùng hoặc vừa mới sừ dụng thuốc kháng vi khuẩn mycobacteria để điều trị lao.
Co giật: Các trường hợp co giật đã được báo cáo xảy ra trên các bệnh nhân điều trị bàng Lichaunox.
Hầu hết các trường hợp này đều có ghi nhận có tiền sừ động kinh hoặc có các yếu tố nguy cơ gây động kinh. Bệnh nhân cần được khuyên phái thông báo cho bác sĩ cùa mình nếu họ có tiền sử động kinh.
Các chất ức chế monoamin oxidase: Linezolid là chất ức chể không chọn lọc mọnoamin oxidase (M AO1) có hồi phục; tuy nhiên, ở liều lượng sú dụng để điều trị kháng sinh, nó không gây ra tác dụng chống ức chế. Có rất ít dữ liệu từ các nghiên cứu tương tác thuốc và về độ an toàn cùa linezolid khi sử dụng ờ bệnh nhân có bệnh nền và/hoặc cỏ dùng thuốc đồng thời các thuốc có thể gây ra nguy cơ do việc ức chế monoamine oxidase (MAO). Vi vậy, không nên dùng linezoiid trong những trường hợp này trừ kill có thể theo dõi và giám sát chặt chẽ người dùng thuốc (xem mục Chống chi định và Tương tác).
Sử dụng với thực phẩm có nhiều tyramin: Bệnh nhân nên được khuyến cáo không sử dụng lượng lớn thực phẩm có nhiều tyramin (xem mục Tương tác).
Bội nhiễm: Tác động của linezolid lên các vi khuẩn có lợi chưa dược đánh giá trong các thừ nghiệm lâm sàng.
Việc sir dụng các thuốc kháng sinh đôi khi gây ra sự phát triền quá mức cũa các loài vi khuẩn không nhạy cảm với thuốc. Ví dụ: Khoáng 3% bệnh nhân sử dụng các liều linezolid được khuyến cáo có bị nhiếm nấm Candida liên quan đến thuốc trong các thứ nghiệm lâm sàng. Nếu bị bội nhiễm trong khi điều trị, cần có các biện pháp điều trị phù hợp.
Các nhóm quần thể đặc biệt: Linezolid cần được sử dụng đặc biệt cẩn trọng ở những bệnh nhân suy thận nặng và chi khi lợi ích dự kiến là vượt trội so với nguy cơ có thể gặp (xem mục Liều lượng và Cách dùng và Các đặc tính dược động học).
Chỉ nên dùng linezolid cho bệnh nhân suy gan nặng khi lợi ích dự kiến vượt trội so với nguy cơ có thề gặp (xem mục Liều lượng và Cách dùng và Các đặc tính dược động học).
Suy giảm khả năng thụ thai: Linezoltd có thể làm giảm khả năng thụ thai và gây ra hình thái tinh trùng bất thường ở chuột đực trưởng thành ở mức độ phơi nhiễm gần bàng với mức dự kiến ở người và tác động này là có thể phục hồi; khả năng ảnh hưởng của linezolid lên hệ sinh dục nam ờ người chưa được biết.
Các thử nghiệm lâm sàng: Độ an toàn và hiệu quả của linezolid khi sử dụng trong thời gian dài hơn 28 ngày chưa được xác định.
Các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng không bao gồm những bệnh nhân có tổn thương chân do tiểu đường, tổn thương do tư thế nằm hoặc do thiếu máu cục bộ, bị bòng nặng hoặc hoại tử nặng. Vì thế, kinh nghiệm sử dụng linezolid để điều trị nhũng trường hợp này còn hạn chế,
Tá được
Mỗi ml dung dịch có chứa glucose 45,7 mg (tức là 13,7g/ 300 ml). Điều này cần được tính đến ở những bệnh nhân tiểu đường hoặc các tình trạng khác liên quan đến sự không dung nạp glucose. Mỗi ml dung dịch cũng chứa 0,61 mg (182 mg/ 300 ml) natri. Nồng độ natri nên được tính đến ờ bệnh nhân dùng chế độ ăn kiêng có kiểm soát.
Thận trọng khi dùng thuốc
Thận trọng khi đùng Lichaunox khi có những biểu hiện sau:
có vết bầm tím và dễ chảy máu
bị thiếu máu
Dễ bị nhiễm trùng
có tiền sử động kinh
có vấn đề vê gan hoặc thận đặc biệt khi phải chạy thận
bị tiêu chảy
Thông báo với bác sỹ nếu điều trị bệnh nhân gặp một sổ vấn đề sau:
Trong Lichaunox có:
Glucose
Mỗi ml Lichaunox chứa 45,7 mg glucose (một túi thuốc Lichaunox chứa 13,7g glucose). Vì vậy cần chú ý khi điều trị Lichaunox cho bệnh nhân bị tiểu đường.
Muối
Mỗi ml Lichaunox chúa 0.6Img muối natri (một bịch nhựa thuốc Lichaunox chứa 182 mg muối natri). Vì vậy cần chú ý khi điều trị Lichaunox cho bệnh nhân đang trong chế đọ kiêng khem kiểm soát muối natri.
Phụ nữ có thai:
Các nghiên cứu về tác dụng của linezolid trên hệ sinh sản được thực hiện trên chuột nhắt và chuột cống không cho thấy ảnh hưởng gây dị tật thai nhi. Độc tính nhẹ trên thai nhi chỉ được quan sát thấy trên chuột nhắt ở mức liều gây độc như với chuột mẹ. Trên chuột cống, độc tính trên thai nhi được thể hiện thông qua ảnh hường làm giảm trọng lượng thai và giảm quá trình xương hỏa đốt xương ức (thường đi kèm với sự giảm trọng lượng cơ thể). Giảm tỷ lệ sống sót và chậm phát triển của chuột con đã xuất hiện trên chuột cống.
Khi ghép cặp, các chuột con này cũng thấy biểu hiện tăng quá trình mất làm tổ của trứng có hồi phục và phụ thuộc vào liều dùng. Chưa có đầy đủ các nghiên cứu được kiểm soát tốt tiến hành trên phụ nữ có thai. Do vậy, chỉ nên sử dụng linezolid trong thời kỳ mang thai khi lợi ích mang lại vượt trội hơn nguy cơ gây hại cho thai nhi. Linezolid làm giảm khả năng sinh sản trên chuột cống đực.
Phụ nữ cho con bú:
Linezolid bài tiết qua sữa mẹ trên chuột cống đang cho con bú trên thực nghiệm. Chưa biết rõ liệu trên người linezolid có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Do đó, cần thận trọng khi dùng linezolid cho phụ nữ đang cho con bú.
Bệnh nhân cần được cảnh báo về khà năng bị chóng mặt hoặc triệu chứng suy giảm thị lực (như đã mô tả trong mục Tác dụng phụ) khi dùng linezolid và cần được khuyến cảo không lái xe hay vận hành máy móc nếu có những triệu chứng đó xảy ra.
Chất ức chế momamin oxidase: Linezolid là chất ức chế không chọn lọc monoamin oxidase (MAOI) có hồi phục. Có rất ít dữ liệu từ các nghiên cứu tương tác thuốc và về độ an toàn của linezolid khi sử dụng ở bệnh nhân có dùng đồng thời các thuốc có thề gây ra nguy cơ từ việc ức chế monoamin oxidase (MAO). Vì vậy, không nên dùng Hnezolid trong những trường hợp này trừ khi có thề theo dõi và giám sát chặt chẽ người dùng thuốc (xem mục Cảnh báo và Chống chì định).
Khá năng tương tác thuốc gây tăng huyết áp: Ở những tình nguyện viên khoè mạnh có huyết áp bình thường, linezolid thúc đẩy việc tăng huyết áp gây ra bởi pseudoephedrin hoặc phenylpropanolamin hydrochlorid. Khi linezolid được dùng cùng với pseudoephedrin hoặc phenylpropanolamin, việc này dẫn đến mức tăng trung bình huyết áp tâm thu theo thứ lự là 30-40mmHg, so vớỉ mức tăng 1 l-15mmHg nếu chi dùng linezolid, 14-18mmHg với một trong hai thuốcpseudoephedrin hoặc phenỵlpropanolamin và 8-1 IrmnHg với giả dược. Nghiên cứu tương tự ở đối tượng huyết áp cao chưa được thực hiện, cần cẩn thận lượng giá liều lượng cùa các thuốc có tác động co mạch, bao gồm căc thuốc có liên quan đến dopamin, dể đạt được đáp ứng mong muốn khi dùng đồng thời với linezolid.
Khả năng tương tác với serotonin: Khả năng tương tác thuốc với dextromethorphan đtrợc nghiên cứu trên tình nguyên viên khoé mạnh. Những đối tượng này được sử dụng dextromethorphan (hai liều 20mg cách nhau 4 giờ) kèm theo hoặc không kèm linezolid. Không có triệu chứng nào của hội chứng serotonin (lú lẫn, mê sảng, bồn chồn, run rẩy, ửng đỏ, toát mồ hôi, sốt cao) quan sát được ở những đối tượng bình thường dùng linezolid và dextromethorphan.
Kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành: có một báo cáo về một bệnh nhàn có bị tác động giống hội chứng serotonin khi dùng linezolid và dextromethorphan và đã hồi phục sau khi ngưng sử dụng cá hai thuốc đó. Khi sử dụng linezolid trên lâm sàng cùng với các thuốc liên quan đến serotonin, bao gồm các thuốc chống trầm cảm, ví dụ như các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), đã có những ca bị hội chứng serotonin được báo cáo. Vì vậy, tuy việc dùng đồng thời là bị chống chi định (xem mục Chống chỉ định), việc quản lý các bệnh nhân được điều trị với linezolid và các thuốc serotonergic là thiết yếu, như dã mô tá trong mục Cành báo.
Sử dụng cùng với các thực phẩm giàu tyramin: Không có đáp ứng làm tăng huyết áp đáng kể nào quan sát được ở những đối tượng dùng linezolid cùng với tyramin dưới lOOmg. Điều này cho thấy chí cần tránh dùng quá nhiều thực phẩm và đồ uống cõ hàm lượng tyramin cao (ví dụ như pho mát chín, sân phấm chiết xuất từ nấm men, đồ uống có cồn chưa được chưng cất và các sàn phẩm đậu nành lên men, như xì dầu/nước tương).
Các thuốc được chuyển hoá bởi cytochrom P450: Không phát hiện thấy Linezolid được chuyển hoá bời hệ thống enzym cytochrom P450 (CYP) và nó không ức chế bất kỳ đồng phân (isoform) nào của CYP ở người (1A2, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1,3A4) một cách đáng kế về mặt làm sàng, Tương tự. linezolid cũng không gây cảm ứng các đồng phân enzym P450 ở chuột. Vì vậy không có tương tác với các thuốc cảm ứng CYP450 nào được tiên lượng đối với linezolid.
Rifampicin: Tác động cùa rifampicin lên dược động học cùa linezolid dược nghiên cứu trên mười sáu tinh nguyện viên nam trường thành khoẻ mạnh dùng linezolid 600mg hai lần một ngày trong 2,5 ngày kèm với hoặc không kèm rifampicin 600mg một lần một ngày trong 8 ngày. Rifampicin làm giám Cmax và AUC của linezolid trung bình lần lượt là 21% [khoảng tin cậy 90%, 15, 27] và 32% [khoáng tin cậy 90%, 27, 37], Cơ chế của tương tác này và ý nghĩa lâm sàng của nó chưa được biết đến.
Warfarin: Khi warfarin được thêm vào trong phác đồ linezotid ở trạng thái ổn định, mức INR tối đa trung bình giảm 10% khi dùng cùng nhau và AUC INR giảm 5%. Chưa có đù dữ liệu trên bệnh nhân dùng warfarin và linezolid để đánh giá ý nghĩa lâm sàng, nếu có, cứa những phát hiện trên.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với thuốc khác.
Trong quá trình sử dụng Lichaunox 2mg/ml thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau:
Bảng dưới đây liệt kê các phản ứng bất lợi của thuốc với tần suất dựa vào dữ liệu nhân quá từ các nghiên cứu lầm sàng ghi nhận trên 2.000 bệnh nhân trường thành với liều điểu trị khuyến cáo của linezolid lên đến 28 ngày. Những trường hợp được báo cáo nhiều nhất là tiêu chảy (8.4%), nhức đầu (6.5%), buồn nôn (6.3%) và nôn mửa (4.0%).
Các tác dụng không mong muốn liên quan đến thuốc dẫn đến ngưng điều trị được báo cáo phố biến nhất là đau đầu. tiêu cháy, buồn nôn và nôn. Khoảng 3% bệnh nhân ngưng điều trị vì họ đã trái qua một sự kiện bất lợi liên quan đến thuốc.
Các phàn ứng phụ khác được báo cáo sau khi lưu hành được đưa vào bàng với tần suất ‘Không biết’, vì tần số thực tế không thể ước lượng được từ dữ liệu có sẵn.
Các phản ứng không mong muốn sau đây đã được quan sát và báo cáo điều trị với linezolid kèm theo các tần sổ sau: Rất phổ biển (> 1/10); phổ biến (> 1/100 đến < 1/10); không phổ biến (> 1/1.000 đến <1/100); hiếm (> 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiểm (< 1/10.000); Không biết (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn)
| Hệ thống các cơ quan | Phổ biến (>1/100 to <1/10) | Không phổ biến (>1/1,000 to <1/100) | Hiếm (>1/10,000 to <1/1,000) | Rất hiếm (<1/10,000) | Không biết (không .thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn) |
| Nhiễm trùng và lây nhiễm | Nấm Candida, nấm Candida vùng miệng, nhiễm nấm Candida âm đạo, nhiễm nấm | Nhiễm nấm âm đạo | Viêm đại tràng kháng sinh liên quan, bao gồm viêm đại tràng giả mạc * | ||
| Máu và rối loạn hệ bạch huyết | Thiếu máu*f | Giảm bạch cầu*, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu*, tăng bạch cầu ái toan | Thiếu máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu)* | ức chế tuỷ xương*, Thiểu máu hồng cầu to* | |
| Rối loạn hệ miễn dịch | Sốc phản vệ | ||||
| Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng | Hạ Natri máu | Nhiễm toan lactic* | |||
| Rối loạn tâm thần | Mất ngủ | ||||
| Rối loạn hệ thần kinh | Nhức đầu, rối loạn vị giác (vị kim loại), chóng mặt | Co giật*, hạ huyết áp | Hội chứng serotonin**, bệnh lý thần kinh ngoại biên* | ||
| Rối loạn về mắt | Mờ mắt* | Thay đổi vùng khuyết thị trường* | Bệnh thần kinh thị giác, viêm thần kinh thị giác, mất thị giác, thay đổi thị lực, thay đổi khà năng nhìn màu sắc* | ||
| Rối loạn về thính lực | Ù tai | ||||
| Rối loạn tim mạch | Loạn nhịp tim (nhịp tim nhanh) | ||||
| Rối loạn hệ mạch máu | cao huyết áp | các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, viêm tĩnh mạch huyết khối | |||
| Rối loạn tiêu hoá | tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau cục bộ hoặc đau bụng cục bộ, táo bón, chửng khó tiêu | viêm tụy, viêm dạ dày, đau bụng, khô miệng, viêm da liễu, phân lỏng, viêm miệng, thay đổi màu sắc lưỡi | Thay đổi màu men răng | ||
| Rối loạn gan mật | xét nghiệm chức năng gan bất thường; tăng AST, ALT hoặc phosphat kiềm | tăng bilirubin tổng cộng | |||
| Rối loạn da và các mô dưới da | Ngứa, phát ban | Mày đay, viêm da, mày đậm | Các chứng rối loạn nhịp nhàng như những triệu chứng như hội chứng Stevens – Johnson và hoại tử biểu bì độc, phù mạch, rụng tóc | ||
| Rối loạn về thận và tiết niệu | Tăng BUN | Suy thận, tăng creatinine, đa niệu | |||
| Rối loạn hệ thống sinh sản và vú | Rối loạn âm đạo | ||||
| Rối loạn tổng quát và điều kiện điều trị | Sốt, đau cục bộ | ớn lạnh, mệt mỏi, đau vùng chích, tăng sự khát | |||
| Kiểm soát các chỉ số xét nghiệm | Hóa học
Tăng LDH, kinase creatinine, lipase, amylase hoặc không ăn kiêng glucose. Giảm tổng protein, albumin, natri hoặc canxi. Tăng hoặc giảm kali hoặc bicarbonate. Huyết học Tăng bạch cầu trung tính hoặc bạch cầu ái toan. Giảm hemoglobin, hematocrit hoặc hồng cầu. Tăng hay giảm lượng tiểu cầu hoặc bạch cầu |
Hóa học
Tăng natri hoặc canxi. Giảm glucose không ăn kiêng. Tăng hoặc giảm clorua. Huyết học Tăng số tế bào võng mạch. Giảm bạch cầu trung tính |
*Xem phần Cảnh báo đặc biệt và các biện pháp phòng ngừa để sử dụng
**Xem phần Chổng chỉ định và Tương tác thuốc
t Xem bên dưới
Các phản ứng phụ không mong muốn đối với linezolid được coi là nghiêm trọng trong những trường hợp hiếm hoi: đau bụng cục bộ, cơn đau thiếu máu cục bộ thoáng qua và tăng huyết áp. t Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, nơi linezoiid được sử dụng trong 28 ngày, 2.0% bệnh nhân bị thiếu máu.
Trong một chương trình sử dụng cho bệnh nhân bị nhiễm trùng đe doạ đến mạng sống và các bệnh đồng kèm theo, tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu khí nhận linezolid trong 28 ngày là 2,5% (33/1326) so với 12,3% (53/430) khi điều trị trong> 28 ngày. Tý lệ các trường hợp báo cáo tình trạng thiếu máu nghiêm trọng do thuốc và yêu cầu truyền máu là 9% (3/33) ở bệnh nhân điều trị < 28 ngày và 15% (8/53) ở những người được điều trị trong> 28 ngày.
Nhóm bệnh nhân nhi: Dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu làm sàng dựa trên hơn 500 bệnh nhân nhi (từ trẽ sơ sinh đến 17 tuổi) không thấy có sự khác biệt về tính an toàn của linezolid cho bệnh nhân nhi so với bệnh nhân người lớn.
Tác dụng phụ khác:
Tác dụng phụ thường gặp: (ảnh hưởng đến 1 trong 10 người sử dụng):
Bệnh về nấm như nấm âm đạo hay nấm miệng
Nhức đầu
Trong miệng có vị kim loại
Tiêu chảy, buồn nôn hoặc nôn
Kết quả xét nghiệm máu có thay đổi bao gồm kết quả đo thận, chức năng gan hay lượng đường trong máu
Chảy máu hoặc bị bầm tím không rõ nguyên nhân, có thể do sự thay đổi về số lượng các tế bào trong máu và có thể ảnh hưởng đến quá trình đông máu hoặc dẫn đến thiểu máu
Tác dụng phụ không phổ biển: (ánh hưởng đến ỉ trong 100 người sử dụng):
Tác dụng phụ hiếm gặp: (ảnh hưởng đển 1 trong 1000 người sử dụng):
Một so tác dụng phụ khác (tần xuất chưa được báo cáo):
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Chưa ghi nhận được trường hợp quá liều nào.
Trong trường hợp quá liều người bệnh càn được chăm sóc tích cực và duy trì việc lọc cầu thận. Khoảng 30% liều dùng linezolid được loại bò trong 3 giờ chạy thận nhân tạo, tuy nhiên không có sổ liệu cụ thể về việc linezolid được loại bỏ thông qua phương pháp thẩm phân phúc mạc hay lọc máu hấp phụ.
Thông báo ngay với bác sĩ trong trường hợp người bệnh cho rằng đã được kê quá liều điều trị.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Nhóm dược lý: Kháng khuẩn
Mã ACT: J01XX08
Linezolid là một thuốc kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm kháng sinh mới oxazolidinones. Nó có hoạt tính In vitro chống lại các vi khuẩn hiểu khí Gram (+), một số vi khuẩn Gram (-) và vi khuấn ky khí. Linezolid ức chế chọn lọc quá trình tồng hợp protein cùa vi khuẩn theo một cơ chế duy nhất. Cụ thề thuốc gắn vào một vị trí trên ribosom của vi khuẩn (23S cúa tiểu đơn vị 50S) vả ngăn cán sự hình thành phức hợp khởi đầu 70S chức năng, là thành phần quan trọng dịch mã.
Tỉ lệ kháng thuốc mắc phải phụ thuộc vào địa lý và thời gian và có thế rất cao đối với các loài nhất định. Thông tin về sự kháng thuốc ớ địa phương là rất quan trọng, đặc biệt là khi điều trị nhiễm khuẩn nghiêm trọng.
| Độ nhạy cám: hiệu quả trên các loại vi khuẩn | ||
| Vi khuẩn hiểu khí Gram (+}: | Vi khuẩn ky khi Gram (-): | |
| Enterococcus faecalis Enterococcus faecium* Staphylococcus aureus*
Staphylococci coagulase (-) |
Streptococcus agalactiae*
Streptococcus pneumoniae* Streptococcus pyogenes* Streptococci nhóm c Streptococci nhóm G |
Clostridium perfringens Peplostreptococcus anaerobius Các loài Peptostreptococcus |
Những vi khuẩn đã kháng thuốc
Haemophilus influenzae
Moraxella catarrhal is
Neisseria species
Enterobacteriaceae
Pseudomonas species
Dấu (*) biểu thị hiệu quả lâm sàng cùa linezolid đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng
Hấp thu:
Linezolid nhanh chóng hấp thu sau khi tiêm truyền, đạt nồng độ tối đa trong hyết tương sau 2 giờ dùng thuốc. Sinh khả dụng cũa Linezolid đường tiêm truyền tĩnh mạch đạt tuyệt đối (khoảng 100%). Cmax và Cmin cùa linezolid trong huyết tương (trung bình vả ở trạng thái ổn định sau khi dùng liều 600mg tiêm tĩnh mạch 2 lần một ngày được xác định lần lượt là 15,1 [2,5]mg/l và 3,68 [2,68J mg/1.
Phân bố: Thể tích phân bố trung bình và ở trạng thái ổn định ờ mức khoảng 40 – 501 ở người trưởng thành khỏe mạnh. Khoảng 31 % thuốc liên kết với protein huyết tương và tỷ lệ này không phụ thuộc vào nồng độ.
Linezolid đã được tìm thấy trong nhiều dịch cơ thể khác nhau khi dùng liều lặp lại ở một số lượng giới hạn người tình nguyện, Tỷ lệ giữa nồng độ linezolid trong nước bọt và trong huyết tương là 1,2 – 1,0, và tỷ lệ giữa nồng độ linezolid trong mồ hôivà trong huyểt tương là 0,55 – 1,0.
Tỷ lệ linezolid trong dịch lót biểu mô và tế bào phế nang so với trong huyết tương tương ửng là 4,5:1,0 và 0,15:1,0, đo tại thời điểm xác định Cmax trong huyết tương ờ trạng thái ổn định.
Chuyển hóa
Linezolid được chuyển hóa chủ yếu bằng cách oxy hóa vòng morpholine để tạo thành hai dẫn chất acid carboxylic mở vòng chính không có hoạt tính là acid aminoethoxyacetic (PNU-142300), và glycine hydroxyethyl (PNU-142586). Chất chuyển hóa glycine hydroxyethyl (PNU-142586) là chất chuyển hóa chính trong cơ thể con người được tạo thành bởi cơ chể không enzym. Chất chuyển hóa acid aminoethoxyacetic (PNU-142300) có ít hơn.
Thải trừ
Ở những bệnh nhàn có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ đến trung bình, linezolid được thải trìr qua nước tiểu ở trạng thái ồn định dưới dạng PNU-142586 (40%), dạng nguyên vẹn (30%), và PNU – 142300 (10%). Linezolid đào thải qua thận ít (trung bình 40ml/phút và được cho là có tại hấp thu tại ống thận. Dạng nguyên vẹn hầu như không xuất hiện trong phân, trong khi khoảng 6% liều dùng được tìm thấy trong phân ờ dạng PNU-142586, và 3% dưới dạng PNU – 142300.Thời gian bán thài trung bình là 5 -7 giờ.
Có sự không tương đồng giữa độ thanh thải và tốc độ tăng liều linezolid do linezolid được đào thải thấp hơn qua thận và không qua thận tại nơi có nồng độ cao hơn. Tuy nhiên, sự khác biệt về độ thanh thải này nhỏ và không được phản ánh rõ qua thông số thời gian bán thải.
Đối tượng đặc biệt
Suy thận: Sau 600 mg liều duy nhất, có sự gia tăng 7-8 lần đối với hai chất chuyển hóa chính cùa linezolid trong huyết tương của bệnh nhân suy thận nặng (nghĩa là độ thanh thải creatinine <30 ml / phút). Tuy nhiên, không có sự gia tăng AUC cùa thuốc gốc. Mặc dù có sự loại bở các chất chuyển hóa chủ yếu cùa linezolid bằng cách thẩm tách máu, nhung mức độ chuyển hoá trong huyết tương sau khi dùng liều duy nhất 600mg vẫn cao hơn đáng kể so với lọc máu so với những bệnh nhân có chức nâng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ đến trung bình, ở 24 bệnh nhân suy thận nặng, 21 bệnh nhân được thẩm tách máu thường xuyên, nồng độ đình trong huyết tương của hai chất chuyên hóa chính sau vài ngày dùng thuốc khoảng 10 lần so với những bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Nồng độ đỉnh linezolid trong huyết tương không bị ảnh hưởng. Ý nghĩa lâm sàng của những quan sát này đã không được thiết lập vì dữ liệu an toàn hạn chế hiện đang có sẵn.
Suy gan: Dữ liệu giới hạn cho thấy dược động học của linezolid, PNƯ-142300 và PNU-142586 không thay đổi ở những bệnh nhân suy nhược thần kinh từ nhẹ đến trung bình (ví dụ Child-Pugh loại A hoặc B). Dược động học của linezolid ờ những bệnh nhân suy gan nặng (tức là trẻ em-Pugh lớp C) chưa được đánh giá. Tuy nhiên, vỉ linezolid được chuyển hóa bằng một quá trinh không phải enzyme, sự suy giảm chức năng gan sẽ không làm thay đổi đáng kề sự trao đổi chất của nó.
Trẻ em (<18 tuổi): Không có số liệu ve độ an toàn và hiệu quả của linezolid ở trẻ em và thanh thiếu niên (<18 tuổi) và do đó, không nên sử dụng linezolid ở nhóm tuổi này cần có những nghiên cứu sâu hơn để đưa ra khuyến cáo liều lượng an toàn và hiệu quà. Các nghiên cứu vê dược động học chì ra rằng sau khi dùng liêu đơn và nhiêu liều ở trẻ em (từ 1 tuần đến 12 tuổi), sự thanh thải linezolid (dựa trên trọng lượng cơ thể kg) cao hơn ở bệnh nhân nhi nhi hơn ở người lớn, nhưng giảm với tuổi càng ngày càng tăng, ở trẻ từ 1 tuần tuổi đển 12 tuổi, dùng 10 mg / kg mỗi 8 giờ mỗi ngày cho phơi nhiễm gần 600 mg X 2 lần mỗi ngày ở người lớn. Ở trẻ sơ sinh đến 1 tuần, sự thanh thài hệ thống linezolid (dựa trên trọng lượng cơ thể kg) tăng lên nhanh chóng trong tuần đầu tiên của cuộc đời. Vì vậy, trẻ sơ sinh được cho 10 mg / kg mỗi 8 giờ mỗi ngày sẽ có tiếp XÚC toàn thân lớn nhất vào ngày đầu tiên sau khi sinh. Tuy nhiên, sự tích tụ quá mức không phải là mong đợi với chể độ liều lượng này trong suốt tuần đầu tiên của cuộc đời vì sự giải phỏng mặt bằng tăng lên nhanh chóng trong thời gian đó. ở thanh thiểu niên (tù 12 đến 17 tuổi), dược động học giống linezolid tương tự như ờ người lớn sau khi dùng liều 600mg. Do đó, thanh thiếu niên dùng 600 mg mỗi 12 giờ mỗi ngày sẽ có phàn ứng tương tự như ở người lớn dùng liều tương tự. Ở những bệnh nhân nhi khoa với những bệnh nhân thất phân tâm thất được điều trị bằng đường linezolid 10mg / kg hoặc 12 giờ hoặc 8 giờ một lần, các nồng độ linezolid biến dạng não não biến dạng đã được quan sát thấy sau khi dùng linezolid đơn hoặc nhiều làn. Nồng độ điều trị không thường xuyên đạt được hoặc duy trì ở CSF. Do đó, việc sử dụng linezolid để điều trị theo kinh nghiệm các bệnh nhân nhi nhi mắc các nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương không được khuyến cáo.
Người cao tuổi: Dược động học của linezolid không thay đồi đáng kể ở bệnh nhân cao tuổi từ 65 tuồi trở lên.
Bệnh nhân nữ: Phụ nữ có lượng phân bố thấp hơn nam giới và độ thanh thải trung bình giảm khoảng 20% khi điều chỉnh trọng lượng cơ thể. Nồng độ huyết tương cao hơn ở nữ giới và điều nảy một phần là do sự khác biệt về trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên, do thời gian bán hủy cùa linezolid không khác biệt đáng kể ở nam giới và nữ, nồng độ trong huyết tương ở nữ giới không tăng lên đáng kê so với những người được biết đến là được dung nạp tốt và do đó điều chỉnhe liều không cần thiết.
Chưa có tài liệu nghiên cứu nào được công bố.
Thuốc Lichaunox 2mg/ml được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm, được đựng trong ống hợp vệ sinh, bên ngoài là hộp giấy cartone màu trắng. Mặt trước in tên thuốc màu đỏ, bên dưới có các chấm hình tròn màu đỏ và hai mặt có in thông tin chi tiết về thành phần, nhà sản xuất, chỉ định, cách dùng, ….
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
24 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 1 vỉ x 10 ống, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Khối lượng tịnh: 150g.
Dạng bào chế: dung dịch tiêm.
Thuốc Lichaunox 2mg/ml có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc, hoặc quý vị có thể đặt hàng ngay trên các trang web. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.
Thuốc Lichaunox 2mg/ml có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp 1 vỉ. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệnh nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VN-21245-18
Công ty sản xuất: Pharmaceutical Works Polpharma S.A.
Địa chỉ: 19 Pelplinska Street, 83-200 Starogard Gdanski Ba Lan.
Ba Lan
Không hiển thị thông báo này lần sau.