Đại cương 

Động kinh là một hội chứng bệnh lý của não có thể do nhiều  nguyên nhân khác nhau gây ra có đặc điểm là sự tái diễn của các  cơn kích thích tế bào thần kinh ở não gây hoạt động phóng lực kịch  phát được thể hiện trên lâm sàng và qua một số xét nghiệm cận lâm  sàng đặc hiệu. 

Khoảng 1% dân số thế giới mắc động kinh. Hàng năm ước có 20 – 25  trường hợp mới phát hiện trên 100 000 người và số người bệnh có ít  nhất một cơn động kinh trong cuộc đời là 5%. Tài liệu của Tổ chức Y  tế thế giới (WHO) và Liên hội quốc tế chống động kinh (ILAE) cho  biết hiện ước tính có 50 triệu người bệnh động kinh trên thế giới trong  đó 80% thuộc các nước đang phát triển. Ở các nước phát triển tỷ lệ  mới phát hiện hàng năm là 24 – 53 đối với 100 000 người, còn ở các  nước đang phát triển là 49,3 – 190 đối với 100 000 người. 

Lịch sử tự nhiên của động kinh bắt đầu từ tuổi ấu thơ. Khoảng 2%  trẻ dưới 2 tuổi và 7% trẻ dưới 5 tuổi mắc động kinh; một nửa tổng  số người bệnh nói chung có cơn đầu tiên vào lúc 15 tuổi và hơn  75% người bệnh thấy xuất hiện động kinh trước 18 tuổi. Ở người  trên 60 tuổi, tỷ lệ bệnh mới phát hiện hàng năm khoảng 100 đối với  100 000 người. 

Năm 1981, Liên hội quốc tế chống động kinh đã đưa ra bảng Phân  loại các cơn động kinh hiện vẫn được sử dụng rộng rãi.

Sử dụng hợp lý thuốc kháng động kinh - Dược thư quốc gia
Sử dụng hợp lý thuốc kháng động kinh – Dược thư quốc gia

Phân loại 

Bảng 1: Phân loại quốc tế các cơn động kinh (1981)

1. Cơn toàn bộ 
Cơn vắng ý thức:  
a. Điển hình (động kinh cơn nhỏ). 
 b. Không điển hình.   
Cơn rung giật cơ.  
Cơn giật (clonic).  
Cơn co cứng/trương lực (tonic).  
Cơn co cứng/co giật (tonico – clonic).  
Cơn mất trương lực (atonic, astatic).
2. Cơn cục bộ 
2.1. Cơn cục bộ đơn thuần (không biến đổi ý thức): 
 a. Với dấu hiệu vận động.  
b. Với dấu hiệu cảm giác cơ thể hoặc giác quan. 
c. Với dấu hiệu thực vật.  
d. Với dấu hiệu tâm thần. 
2.2. Cơn cục bộ phức hợp (kèm biến đổi ý thức):  
a. Khởi phát cục bộ đơn thuần tiếp nối có rối loạn ý thức và/ hoặc động tác tự động.  
b. Với rối loạn ý thức ngay lúc khởi phát cơn, có hoặc không kèm theo động tác tự động. 
2.3. Cơn cục bộ toàn bộ hóa thứ phát: 
a. Cơn cục bộ đơn thuần toàn bộ hóa thứ phát. 
b. Cơn cục bộ phức hợp toàn bộ hóa thứ phát. 
c. Cơn cục bộ đơn thuần tiến triển sang cơn cục bộ phức hợp rồi toàn bộ hóa thứ phát.
3. Cơn không phân loại được

Năm 1989, Liên hội quốc tế chống động kinh, căn cứ vào Bảng  Phân loại quốc tế (1981 – 1985) về các cơn co giật, động kinh và  các hội chứng động kinh, đã đề xuất bốn nhóm lớn trình bày dưới  đây. Tuy sau đó (1991) một Phân loại mới đã được đề nghị nhưng  đến nay Phân loại 1989 vẫn được sử dụng phổ biến.  

Bảng 2: Phân loại quốc tế các cơn động kinh (1989). 

1. Động kinh cục bộ:  
1.1. Nguyên phát:  
a. Động kinh lành tính tuổi thơ có kịch phát vùng đỉnh.  
b. Động kinh lành tính tuổi thơ có kịch phát vùng chẩm. 
c. Động kinh tiên phát khi đọc.  
1.2. Triệu chứng:   
a. Hội chứng Kojenikov hoặc động kinh cục bộ tiếp diễn. 
b. Động kinh thùy não.  
Động kinh thùy thái dương.   
Động kinh thùy trán.  
Động kinh thùy đỉnh.  
Động kinh thùy chẩm.  
1.3. Căn nguyên ẩn.
2. Động kinh toàn bộ:  
2.1. Nguyên phát:  
Co giật sơ sinh lành tính.   
Co giật sơ sinh lành tính gia đình.  
Động kinh rung giật cơ lành tính tuổi thơ.  
Động kinh cơn vắng tuổi thơ.  
Động kinh cơn vắng tuổi thiếu niên.  
Động kinh rung giật cơ thiếu niên.  
Động kinh có cơn lớn lúc thức giấc.  
Động kinh có cơn xảy ra theo cách kích thích đặc hiệu. 
Các động kinh toàn bộ nguyên phát khác. 
2.2. Căn nguyên ẩn hoặc triệu chứng.  
Co thắt trẻ thơ.  
Hội chứng West.  
Hội chứng Lennox-Gastaut.  
Động kinh với cơn rung giật cơ – mất trương lực.  
Động kinh với cơn vắng – rung giật cơ.  
2.3. Triệu chứng:   
Không có nguyên nhân đặc hiệu.  
Bệnh não rung giật cơ sớm.  
Bệnh não động kinh trẻ em (hội chứng Ohtahara). 
Các hội chứng khác.  
Hội chứng đặc hiệu.
3. Động kinh không xác định được cục bộ hay toàn bộ. 
3.1. Kết hợp cơn cục bộ và toàn bộ:  
Cơn động kinh sơ sinh.  
Động kinh rung giật cơ nặng.  
Động kinh có nhọn – sóng liên tục khi ngủ.  
Động kinh có thất ngôn mắc phải (hội chứng   Landau-Kleffner).  
3.2. Các động kinh khác không rõ cục bộ hay toàn bộ.
4. Hội chứng đặc biệt  
4.1. Cơn liên quan đến một tình trạng gây động kinh thoáng qua: 
Co giật do sốt cao.  
Cơn chỉ xảy ra do một yếu tố chuyển hóa hoặc nhiễm độc. 
4.2. Cơn đơn độc, động kinh liên tục đơn độc.

Chẩn đoán  

Chẩn đoán động kinh chủ yếu là chẩn đoán lâm sàng dựa trên hỏi  bệnh, thăm khám toàn diện, hệ thống để có thể đặt chẩn đoán quyết  định, thể bệnh và nguyên nhân.

Cơn động kinh là một hiện tượng cấp tính, xảy ra nhất thời, thoáng  qua còn bệnh động kinh là tình trạng diễn ra các cơn động kinh tái  phát, mạn tính, trong nhiều năm. Như vậy một cơn động kinh duy  nhất không tạo nên bệnh động kinh và những cơn động kinh xảy  ra bất chợt thoáng qua cũng không phải là bệnh động kinh. Mặt  khác không có loại động kinh nào không có cơn lâm sàng cũng  như không chỉ có một bệnh động kinh mà có nhiều loại động kinh  khác nhau.  

Về lâm sàng cần phân biệt các cơn động kinh với các cơn có biểu  hiện thần kinh nhưng không do não (ví dụ cơn hạ calci huyết, hạ  đường huyết…), các cơn không phải là động kinh (ví dụ cơn đau  nửa đầu, thiếu oxy não, cơn ngất, cơn đột quỵ não…) và các cơn do  căn nguyên tâm lý. 

Để giúp chẩn đoán lâm sàng còn cần tới các thăm dò chức năng và  xét nghiệm cận lâm sàng như: Ghi điện não, ghi điện cơ, ghi điện  tim, siêu âm mạch não, chụp hình ảnh não (chụp cắt lớp vi tính,  chụp cộng hưởng từ, chụp mạch máu…), chụp X – quang qui ước  khoang ngực, sinh hóa máu và nước tiểu, vi sinh y học, v.v. 

Tuy nhiên cơ bản phải dựa trên các đặc điểm lâm sàng – điện não  mô tả dưới đây. 

Cơn động kinh toàn bộ (Động kinh cơn lớn) 

Trên lâm sàng, ý thức của người bệnh bị mất hoặc rối loạn kèm với  những triệu chứng thực vật (hô hấp, tuần hoàn, bài tiết…) đồng thời  với những hiện tượng vận động cân đối hai bên cơ thể là co giật  (co cứng và/hoặc co giật), mất động tác chủ động, mất trương lực  cơ bình thường. 

Trên bản ghi điện não thấy xuất hiện các phóng lực kịch phát toàn  bộ hai bên bán cầu một cách đồng thì và cân xứng. Sự phóng lực  của các tế bào thần kinh bị kích thích gây ra cơn động kinh có thể  khởi phát ngay từ hai bán cầu não hoặc cũng có thể khởi phát từ  một vị trí nào đó của một bên bán cầu rồi sau lan ra toàn bộ não.  Do đó có thể phân biệt các cơn động kinh toàn bộ với các cơn động  kinh cục bộ toàn bộ hóa thứ phát. 

Cơn động kinh vắng ý thức (Động kinh cơn nhỏ) 

Đặc điểm chủ yếu của động kinh cơn nhỏ thuần túy ở trẻ em là  những cơn vắng ý thức. Đó là những cơn động kinh toàn bộ không  có biểu hiện về mặt vận động, diễn ra ngắn trong vài chục giây  (thường không quá nửa phút) và xuất hiện nhiều lần trong ngày  (có thể hàng chục lần). Biểu hiện các cơn đó có thể đơn thuần hoặc  phức hợp. Trong cơn vắng ý thức đơn thuần, bệnh nhi đột ngột  mất cảnh tỉnh và tiếp xúc, không bị ngã, mi mắt chớp với nhịp độ  3 lần/giây, không đều, mắt hơi đảo ngược. Cơn dứt cũng đột ngột  và bệnh nhi tiếp tục hoạt động bỏ dở lúc mới xảy ra cơn và không hề biết bản thân vừa qua một cơn vắng ý thức. Trong cơn vắng ý  thức phức hợp, ngoài những chi tiết nêu trên, còn có thêm một số  biểu hiện khác như: Rung giật cơ mặt hoặc ở gốc các chi trên, đầu  có thể bị ngả ra sau hoặc mất trương lực cơ cục bộ; có các động tác  tự động như nhai, nuốt, gãi mũi, xoa bàn tay, cởi khuy, cài khuy,  nói líu ríu; đồng thời có thể kèm theo các hiện tượng thực vật khác.  Trên bản ghi điện não xuất hiện nhịp 3 chu kỳ/giây, toàn bộ, hai  bên, đối xứng, đều đặn và đồng thì với ưu thế vùng trán – trung tâm.  Ngoài cơn, hình ảnh điện não có thể bình thường hoặc có kịch phát  ngắn, không đều ở vùng đỉnh – chẩm.  

Bệnh thường xảy ra ở trẻ từ 3 – 9 tuổi, có thể giảm nhẹ sau 10 – 15  tuổi hoặc cũng có thể khỏi hoàn toàn. Một số trường hợp có thể  tiếp diễn sau này và có khi xảy ra các cơn toàn bộ của động kinh  cơn lớn. 

Cơn động kinh cục bộ 

Trên lâm sàng xuất hiện các triệu chứng vận động, cảm giác, giác  quan và/hoặc tâm trí, không có tính chất hai bên hoặc toàn thể như  các cơn động kinh toàn bộ phản ánh sự phóng lực các kích thích  giới hạn ở một diện vỏ não nhất định liên quan đến các chức năng  thần kinh riêng biệt.  

Trên bản ghi điện não xuất hiện các hình ảnh bất thường cục bộ, có  thể không thấy rõ khi ghi điện não ở bề mặt.  

Ngoài ra một cơn động kinh cục bộ có thể được tiếp nối sau một  thời gian ngắn bằng một cơn động kinh toàn bộ (co giật kèm với  mất ý thức) nhưng không thể vì cơn co giật thứ phát đó mà thay đổi  chẩn đoán ban đầu là cơn động kinh cục bộ.  

Cơn động kinh liên tục (trạng thái động kinh) 

Đây là cơn động kinh kéo dài hoặc xảy ra liên tiếp trong những  khoảng cách ngắn dẫn đến tình trạng không dứt được động kinh.  Động kinh liên tục có thể gặp đối với loại cơn toàn bộ cũng như cục  bộ; đặc biệt có khi xảy ra sau ngưng thuốc điều trị động kinh một  cách đột ngột. Nguy cơ đối với người bệnh bị động kinh liên tục  là sẽ xảy ra các rối loạn thực vật như tăng thân nhiệt (sốt quá cao),  tim nhịp nhanh, khó thở, trụy tim – mạch và có thể dẫn tới tử vong.  

Điều trị kháng động kinh 

Nguyên tắc thiết yếu 

Có hai điểm cơ bản là phải kiểm soát được cơn động kinh và không  để xảy ra các tác dụng không mong muốn. Như vậy, sau khi đặt  chẩn đoán: 

Thầy thuốc điều trị lựa chọn loại thuốc căn cứ vào thể bệnh, loại  cơn lâm sàng, thể trạng người bệnh. Phần lớn chỉ dùng một loại  thuốc nhất định với điều kiện giữ được nồng độ thuốc điều trị trong  máu sao cho đạt hiệu quả là cắt được cơn lâm sàng mà không gây  tác dụng khó chịu cho người bệnh.  

Thuốc được chỉ định dùng hàng ngày (có thể chia hai hoặc ba lần),  chủ yếu là thuốc uống, đúng theo liều qui định. Người bệnh không  được tự ý tăng, giảm hoặc ngừng thuốc đột ngột.  

Không bao giờ kết hợp hai thứ thuốc cùng nhóm hóa học với nhau,  ví dụ phenobarbital với primidon hoặc diazepam,… Có kế hoạch kiểm tra định kỳ các chức năng máu, gan, thận của  người bệnh sau dùng thuốc. 

Hướng dẫn người bệnh có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, lao động,  tập luyện, nghỉ ngơi thích hợp với tình trạng bệnh tật. 

Lựa chọn thuốc kháng động kinh 

Một thuốc kháng động kinh có thể có nhiều tính chất sinh học thần  kinh. Một số thuốc tác động theo một phương thức chủ yếu, một số  khác có hoạt tính sinh học phức tạp hơn liên quan đến kích cỡ của  phổ tác động điều trị. Một cách khái quát có thể nói rằng phương  thức tác động ảnh hưởng tới các đặc tính của màng nội tại các tế  bào thần kinh hoặc các yếu tố khớp thần kinh (sự truyền dẫn thần  

kinh). Hiện nay, chưa rõ cơ chế tác động của một số phân tử như  acid valproic, gabapentin. Đối với các phân tử khác, các cơ chế  đó bao gồm: ổn định màng tế bào chẹn các kênh natri phụ thuộc  điện thế (phenytoin, carbamazepin, oxcarbazepin, lamotrigin,  topiramat); chẹn các kênh calci phụ thuộc điện thế (ethosuximid);  tăng tác động ức chế của acid gammaaminobutyric (GABA) do  tác động chủ vận thụ thể GABA-A (benzodiazepin, phenobarbital,  topiramat), do ức chế hóa giáng (vigabatrin) hoặc ức chế tái nhập  khớp thần kinh (tiagabin) của GABA; ức chế giải phóng các acid  amin kích thích, glutamat và aspartat (lamotrigin); chẹn thụ thể  NMDA (N-methyl-D-aspartat) như felbamat; chẹn các thụ thể  nhận glutamat loại kainat/AMPA (α-amino-3-hydroxy-5-methyl 4-isoxazolepropionic acid) như topiramat. 

Về mặt dược lý học, khi lựa chọn thuốc kháng động kinh còn phải  chú ý tới các tính chất dược động học như: thời gian đạt nồng độ  tối đa, tỷ lệ gắn protein, thời gian bán thải, nồng độ huyết tương  và tính sinh khả dụng. Những thông số dược động học này khác  nhau đáng kể ở người trưởng thành và trẻ em đối với một số phân  tử kháng động kinh có thể giải thích được sự khác nhau về mặt liều  lượng chỉ định hàng ngày và nồng độ huyết tương được khuyến cáo  trong bảng dưới đây (Bảng 3). 

Về mặt điều trị, ngoài những nguyên tắc thiết yếu đã nêu trên, còn  phải cân nhắc phương thức xử trí động kinh dùng một thuốc (đơn  trị liệu) hay phối hợp nhiều thuốc (đa trị liệu). 

Bao giờ cũng bắt đầu chỉ định một loại thuốc. Lựa chọn thuốc ban  đầu này dựa trên thể động kinh, hoạt tính đã biết của phân tử thuốc,  khả năng dung nạp (thường nên chọn loại thuốc khi sử dụng lâu dài  ít gây tác dụng không mong muốn nhất, đặc biệt đối với chức năng  nhận thức) và hoàn cảnh kinh tế – xã hội của người bệnh. Để tránh  tác dụng an thần lúc mới dùng thuốc, nên tăng dần liều mỗi lần  cách nhau từ 7 đến 10 ngày (riêng phenytoin có thể cho dùng ngay  liều duy trì) và cho uống thuốc vào cuối bữa ăn. Khi điều trị bằng  một loại thuốc chưa đạt hiệu quả cần xem xét lý do vì chưa cho đủ  liều cần thiết hoặc vì phân tử thuốc không phù hợp với bệnh cảnh  lâm sàng. Trường hợp không phù hợp sẽ phải thay đổi loại thuốc  khác và vẫn chỉ nên chỉ định một loại kháng động kinh.  

Xu hướng hiện nay là sau khi dùng một thuốc không đạt hiệu quả  sẽ chuyển sang cho người bệnh dùng kết hợp hai loại thuốc phù hợp. Kết hợp hai loại thuốc với việc sử dụng các phân tử khác nhau  thường mang lại kết quả tốt tuy nhiên cần chú ý tới tương tác thuốc.  Do đó cần thận trọng thăm dò khi bổ sung, kết hợp hoặc thay thế  một loại thuốc mới đặc biệt chú ý tới tác động lâm sàng và liều  lượng. Thực tế cho thấy không cần phải thử tất cả các phối hợp  thuốc khác nhau; theo kinh nghiệm của các thầy thuốc điều trị có  tới 90% trường hợp người bệnh mắc động kinh toàn bộ nguyên  phát được kiểm soát tốt các cơn khi thực hiện đúng dùng một thuốc  hoặc kết hợp hai thuốc. Thuật ngữ “kháng thuốc” hoặc “kháng trị”  được đề cập tới nếu sau 2 năm tiến hành “điều trị đúng” mà vẫn còn  có cơn dai dẳng. Khi đó người bệnh cần được thăm khám đánh giá lại tại một trung tâm chuyên khoa sâu về thần kinh học.  Thông thường kết hợp ba loại thuốc ít có khả năng đạt hiệu quả  mong muốn. Trái lại khi dùng nhiều thuốc khác nhau dễ xảy ra  tương tác thuốc, liều lượng quá tải và độc tính gia tăng. 

Các thuốc kháng động kinh chủ yếu (kinh điển)

Từ trước tới nay, các thuốc này thường được lựa chọn ưu tiên hàng  đầu trong điều trị các thể động kinh. Tổ chức Y tế thế giới cũng  khuyến cáo sử dụng các thuốc này trong Danh mục các thuốc thiết  yếu. Hướng dẫn sử dụng cụ thể và các thông tin quan trọng liên  quan của nhiều thuốc kháng động kinh đã được biên soạn trong  từng chuyên luận thuốc.

Bảng 3: Một số thông số dược động học và nồng độ huyết tương của thuốc kháng động kinh.

Tên thuốcThời gian  đạt nồng độ  tối đa (giờ)Tỷ lệ phần gắn  protein (%)Nửa đời thải trừ  (giờ)Nồng độ huyết  tương mg/lít (mmol/lít)Sinh khả  dụng (%)Liều lượng mg/kg/ngày
Phenobarbital 4 – 18 45 – 60 20 – 40 (NL) 40 – 70 (TE)15 – 30 (65 – 130) 902 – 3 (NL) 3 – 4 (TE)
Primidon 6 – 8 0 – 20 6 – 22 5 – 10 100 10 – 15
Phenytoin 4 – 8 90 13 – 95 10 – 20 (40 – 80) 903 – 5 (NL) 5 – 8 (TE)
Ethosuximid 3 – 7 10 60 (NL) 30 (TE)40 – 80 (300 – 600) 10015 – 20 (NL) 20 – 25 (TE)
Carbamazepin 4 – 8 80 5 – 16 5 – 12 (20 – 50) 8010 – 20 (NL) 20 – 25 (TE)
Valproat 3 – 8 90 8 – 16 50 – 100 (350 – 700) 100 15 – 20 (NL) 20 – 30 (TE)
Vigabatrin 1 – 2 5 – 7 – 100 20 – 55 (NL) 40 – 80 (TE)
Felbamat 2 – 6 25 13 – 20 – 90 15 – 45 (NL) 15 – 45 (TE)
Gabapentin 2 – 3 5 – 7 – 35 – 65 15 – 35
Lamotrigin 55 30 – 100 3 – 7 (NL) 5 – 15 (TE)
Tiagabin 95 7 – 9 – 100 0,5 – 1
Topiramat 3 – 4 13 – 17 20 – 90 3 – 15
Oxcarbazepin 4 – 5 40 8 – 10 – 100 10 – 30 (NL) 10 – 45 (TE)
Levetiracetam 1 – 3 10 6 – 8 – 100 15 – 45 (NL)
Diazepam 2 – 5 95 20 – 40 300 – 450 75 – 100 0,5
Clobazam 1 – 4 90 20 10 – 30 90 0,1
Clonazepam 1 – 4 85 20 – 40 10 – 30 90 0,05

Ghi chú: NL là người lớn; TE là trẻ em. 

Valproat 

Valproat được tổng hợp từ năm 1882 là một thuốc kháng động kinh  mạnh với phổ rộng có tác dụng đối với mọi loại cơn, động kinh  toàn bộ, động kinh cục bộ hoặc động kinh phức hợp, và không gây  ngủ. Thuốc được dung nạp khá tốt và khi sử dụng lâu dài không  ảnh hưởng tới các chức năng nhận thức.  

Valproat được chỉ định trong các trường hợp: Động kinh toàn bộ  nguyên phát (cơn lớn, cơn nhỏ, cơn rung giật cơ), động kinh cục bộ  (bao gồm cả động kinh Bravais-Jackson), động kinh phức hợp, hội  chứng West, hội chứng Lennox-Gastaut. Ngoài ra, có thể sử dụng  đề phòng co giật do sốt cao ở trẻ em, rối loạn tác phong do động  kinh, thói tật (tic) ở trẻ em, nấc không kìm được. 

Carbamazepin 

Carbamazepin được tổng hợp năm 1961 có phổ rộng kháng động  kinh từ các cơn cục bộ đến các cơn toàn bộ hóa thứ phát. Thuốc  được chỉ định điều trị các loại động kinh cục bộ vì hiệu quả lâm  sàng, được dung nạp tốt và không gây rối loạn chức năng nhận thức  khi sử dụng lâu dài. Thuốc không được khuyến cáo đối với động  kinh toàn bộ nguyên phát vì có thể làm nặng hơn các cơn vắng ý  thức điển hình và các cơn rung giật cơ.  

Ngoài ra có thể điều trị đau thần kinh mặt (đau dây V) nguyên phát.  Trong tâm thần học có thể kết hợp điều trị hưng cảm và dự phòng  loạn thần chu kỳ tái phát.  

Phenytoin 

Phenytoin được dùng trong điều trị động kinh từ năm 1938, có tác  dụng kháng động kinh từ các cơn cục bộ đến các cơn toàn bộ hóa  thứ phát. Thuốc không có hiệu quả đối với các cơn vắng ý thức  điển hình và lại có thể làm cho các cơn đó nặng lên. Vì thuốc có tác  động an thần nên chế phẩm dạng tiêm được sử dụng trong điều trị  động kinh liên tục. Phenytoin được chỉ định điều trị mọi thể động  kinh trừ động kinh cơn nhỏ. Thuốc còn có tác dụng chống đau đối  với đau dây thần kinh V. Ngoài ra có thể dùng chống loạn nhịp tim  trong nhịp nhanh cấp, bệnh Bouveret, nhiễm độc digitalis. 

Phenobarbital 

Phenobarbital là một thuốc kháng động kinh cổ điển được sử dụng  từ năm 1912 để điều trị động kinh. Thuốc có tác dụng đối với tất cả  các thể lâm sàng của động kinh trừ các cơn vắng ý thức của động  kinh cơn nhỏ. Do đó được chỉ định chủ yếu đối với động kinh cơn  lớn và các cơn động kinh cục bộ.  

Hiện nay do các tác dụng không mong muốn của thuốc nên  phenobarbital không được khuyến cáo dùng đầu tiên trong điều trị động kinh. Khi sử dụng lâu ngày, thuốc có thể làm giảm mức  nhanh nhạy của trí tuệ và khả năng tập trung chú ý, gây bệnh cảnh  đau loạn dưỡng v.v. 

Các thuốc kháng động kinh mới 

Đây là những dược chất phân tử được tổng hợp trong nửa sau của  thế kỷ XX và được sử dụng trong lâm sàng những năm gần đây.  Thuật ngữ “thuốc kháng động kinh mới” nêu lên sự tương phản với  các thuốc kháng động kinh cổ điển hoặc thường được dùng phổ  biến từ trước tới nay. Điều đáng chú ý là các loại thuốc mới này  thường được chỉ định đối với các trường hợp động kinh khó chữa  trị sau khi đã được dùng các thuốc kháng động kinh chủ yếu, thứ  yếu, hỗ trợ hoặc kết hợp không đạt hiệu quả. Do đó cần thận trọng  khi cho chỉ định các thuốc mới, đặc biệt đối với các trường hợp  bệnh nhi dưới 12 tuổi.  

Các thuốc kháng động kinh mới ít gây tương tác thuốc hơn các  thuốc cổ điển, được dung nạp tốt hơn và ít ảnh hưởng tới các chức  năng nhận thức. Tuy nhiên với giá thành cao và các phân tích tổng  hợp từ các nghiên cứu ngẫu nhiên được kiểm soát trên các nhóm  đối tượng khác nhau còn đang được tiếp tục tiến hành đặc biệt đối  với động kinh khó chữa trị là những điểm thầy thuốc điều trị cần  cân nhắc khi muốn thay thế hoặc loại bỏ hoàn toàn các thuốc được  coi là kinh điển.  

Oxcarbazepin 

Oxcarbazepin có công thức hóa học gần giống carbamazepin và  bị epoxid hóa như carbamazepin do đó được dung nạp tốt hơn và  chuyển hóa của thuốc không bị ảnh hưởng khi chức năng gan bị  suy giảm. Chất chuyển hóa được loại theo đường thận nên khi suy  thận nặng cần phải giảm liều oxcarbazepin. 

Oxcarbazepin được chỉ định giống như carbamazepin và các thuốc  kháng động kinh chủ yếu khác, mặt khác có thể thay thế hoặc bổ  sung oxcarbazepin vào carbamazepin. Vì phổ tác động kháng động  kinh hẹp nên thuốc này bị chống chỉ định trong các động kinh  nguyên phát.  

Gabapentin

Gabapentin là một thuốc kháng động kinh có cấu trúc hóa học rất  gần với acid gamma aminobutyric (GABA) nhưng thực tế thực  nghiệm và lâm sàng cho thấy thuốc này không có tác động đến  thụ thể GABA. Trong một chừng mực nào đó, gabapentin giống  như valproat nhưng khác phenytoin và carbamazepin. Ngoài ra  gabapentin không bị chuyển hóa và được thải trừ nguyên dạng. 

Thuốc được chỉ định dùng đơn thuần hoặc kết hợp trong điều trị  động kinh cục bộ ở người lớn và trẻ em trên 12 tuổi. Đối với bệnh  nhi từ 2 đến 12 tuổi phải điều trị kết hợp. Thuốc không được chỉ  định trong động kinh toàn bộ nguyên phát vì có thể làm cho loại  cơn vắng ý thức trở nên nặng hơn.  

Levetiracetam 

Levetiracetam được nghiên cứu từ năm 1980 và được dùng kết hợp  điều trị động kinh từ năm 1991. Đây là một dẫn xuất của pyrolidon,  được hấp thu nhanh và ít gắn với protein huyết tương. Cơ chế tác  động hiện chưa được rõ nhưng dường như không giống cơ chế tác  động của các thuốc kháng động kinh thông dụng khác.  

Levetiracetam có tác dụng đối với mọi thể động kinh cục bộ và có  thể có hiệu quả đối với một số hội chứng động kinh toàn bộ, đặc  biệt là các thể có rung giật cơ. Thuốc thường được chỉ định trong  các trường hợp động kinh cục bộ kháng trị ở người lớn. Khi dùng  hỗ trợ đối với động kinh cục bộ có hoặc không có toàn bộ hóa  thứ phát cũng như dùng trong đơn trị liệu, thuốc đã cho thấy có  hiệu quả và an toàn. Levetiracetam có rất ít tác dụng thứ phát, tuy  nhiên ở người cao tuổi cần phải giảm liều vì độ thanh thải thường  thấp hơn bình thường. Thuốc không có biểu hiện tương tác với các thuốc kháng động kinh khác trừ khi lượng phenytoin gần tới mức  bão hòa.  

Vigabatrin 

Vigabatrin là chất gamma-vinyl của acid gamma aminobutyric,  một chất ức chế không hồi phục của GABA-tranaminase và do đó  làm tăng hàm lượng GABA trong não, chất trung gian thần kinh ức  chế chính của hệ thần kinh trung ương.  

Thuốc được chỉ định ưu tiên điều trị hội chứng West khi sử dụng một thuốc. Đối với động kinh cục bộ, có thể kết hợp với vigabatrin  khi các thuốc điều trị khác không mang lại hiệu quả. Thuốc bị  chống chỉ định trong động kinh nguyên phát có các cơn vắng ý  thức điển hình và rung giật cơ. Nói chung vigabatrin được dung  nạp tốt. Bất tiện chủ yếu là có thể gây hẹp thị trường đồng tâm ở  30 – 50% người bệnh, do đó chỉ nên cho dùng “khi tuyệt đối cần  thiết sau khi các điều trị kết hợp khác không đủ hoặc không được  dung nạp”.  

Felbamat 

Felbamat được tổng hợp từ họ carbamat là một chất ức chế men  mạnh, được hấp thu nhanh và tính sinh khả dụng cao. Tuy có nhiều  cơ chế tác động và hiệu quả đôi khi khá cao nhưng thuốc được  dung nạp ở mức trung bình và có ảnh hưởng tới các chức năng  nhận thức. Vấn đề lớn nhất là khả năng gây viêm gan mạnh và  gây bất sản tủy có thể dẫn đến tử vong. Ở nước ngoài, chỉ định  hợp pháp hiện nay dành cho người bệnh mắc hội chứng Lennox –  Gastaut kháng trị. 

Lamotrigin 

Lamotrigin là một phenyltriazin có phổ tác động kháng động kinh  rộng bao gồm cả các cơn cục bộ và cơn toàn bộ. Do đó thuốc được  chỉ định đối với động kinh toàn thể hoặc cục bộ ở người lớn và trẻ  em trên 12 tuổi trong đơn trị liệu hoặc kết hợp. Ở bệnh nhi dưới 12  tuổi, có thể cho điều trị kết hợp với lamotrigin nếu thuốc dùng ban  đầu chưa đạt hiệu quả. 

Tiagabin 

Tiagabin là một chất ức chế đặc hiệu tái hấp thu GABA ở khớp thần kinh, tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm. Thuốc được  hấp thu nhanh, chuyển hóa mạnh và 95% được gắn với protein  huyết tương. 

Thuốc được dùng kết hợp, bổ sung trong động kinh cục bộ ở người  lớn. 

Topiramat 

Topiramat là một thuốc kháng động kinh phổ rộng được chỉ định  trong điều trị kết hợp, bổ sung đối với động kinh cục bộ ở người  lớn và trẻ em trên 4 tuổi cũng như trong các động kinh có cơn toàn  bộ co giật kháng trị.  

Thuốc có tác động an thần, gây rối loạn tập trung và ngôn ngữ, biến  đổi tác phong; mặt khác gây chán ăn, giảm thể trọng và đặc biệt có  nguy cơ cao gây sỏi thận, glôcôm góc hẹp thứ phát. 

Fosphenytoin 

Fosphenytoin là một este của phenytoin và chuyển thành phenytoin  trong cơ thể. 750 mg fosphenytoin tương đương với 500 mg  phenytoin. Thuốc được dùng dưới dạng thuốc tiêm bắp hoặc tĩnh  mạch do đó có thể sử dụng trong điều trị động kinh liên tục và dự  phòng các cơn động kinh liên tiếp sau chấn thương hoặc sau phẫu  thuật thần kinh.  

Các thuốc hỗ trợ kháng động kinh 

Đây là các thuốc thường được dùng bổ sung, kết hợp hoặc thay thế  khi điều trị bằng các thuốc kháng động kinh chủ yếu chưa đạt hiệu  quả mong muốn.

Benzodiazepin 

Đây là những thuốc tác động tâm trí nhưng đặc biệt lại có tác dụng  kháng động kinh mạnh và nhanh đối với mọi loại cơn. Mặt bất tiện  là tuy có hiệu lực tức thời nhưng khi người bệnh đã quen thuốc thì  cơn động kinh dễ tái phát một đôi lần trong vòng sáu tháng đầu, có  khi ngay từ tuần thứ hai. Do đó khi tăng liều thuốc có thể dễ dẫn  đến sự xuất hiện các dấu hiệu của độc tính, mặt khác khi ngừng  thuốc có thể xảy ra hội chứng cai thuốc với sự xuất hiện của nhiều  cơn động kinh.  

Có năm dẫn xuất thường dùng là diazepam, clonazepam,  nitrazepam, clobazam và clorazepam. 

Diazepam và clonazepam được dùng đường tĩnh mạch trong điều  trị cấp cứu các cơn động kinh liên tiếp hoặc động kinh liên tục  (trạng thái động kinh). Riêng diazepam có thể dùng đường hậu  môn để dự phòng và điều trị co giật do sốt cao kéo dài.  

Clobazam và nitrazepam có thể được sử dụng điều trị hỗ trợ đối  với một số thể động kinh kháng trị hoặc trong một số trường hợp  như: điều trị từng đợt ngắn ngày một vài thể động kinh cường phát  vào chu kỳ kinh, điều trị một vài thể động kinh xảy ra khi ngủ đêm. 

Một số thuốc khác 

Ethosuximid có tác dụng đặc hiệu đối với các cơn vắng ý thức điển  hình và cũng có thể dùng điều trị các cơn vắng ý thức không điển  hình và các cơn rung giật cơ.  

Primidon là loại thuốc chuyển hóa trong cơ thể thành phenobar bital do đó khó phân biệt đặc tính riêng của thuốc này so với  phenobarbital. 

Pheneturid là loại thuốc phối hợp phenobarbital với phenytoin  theo những liều nhất định do đó có thể kê đơn bào chế theo y lệnh  của thầy thuốc điều trị. 

Một số thuốc mới như Ativan (lorazepam dạng tiêm), zonisamid,  losigamon, stiripentol, remacemid, ralitolin, pregabalin và nhiều  phân tử mới nữa hiện đang được tiếp tục nghiên cứu trên thế giới. 

Tương tác thuốc và tác dụng không mong muốn của thuốc  kháng động kinh

Có rất nhiều tương tác giữa các thuốc kháng động kinh là hậu quả  của sử dụng nhiều loại thuốc (đa trị liệu). Các tương tác đó thường  hay gặp đối với các thuốc kháng động kinh kinh điển hơn là các  phân tử mới. Nói chung, cần chú ý tới tác động cảm ứng men của  phenobarbital, phenytoin, primidon và carbamazepin cũng như tác  động ức chế men của valproat và felbamat. 

Cùng với các tác dụng tích cực chủ yếu là cắt được cơn lâm sàng,  các thuốc kháng động kinh đều có một số tác dụng không mong  muốn nhất định. Các tác dụng đó có thể liên quan đến các phản  ứng đặc ứng, liều lượng thuốc, thời gian dùng thuốc và thể trạng  người bệnh. 

Các phản ứng đặc ứng có thể xảy ra cấp tính, bất ngờ, không  phụ thuộc vào liều lượng thuốc, ảnh hưởng tới tiên lượng sinh  mạng của người bệnh nên cần phải ngừng sử dụng. Đối với các  thuốc kinh điển (như phenytoin, carbamazepin, phenobarbital) và  lamotrigin (khi dùng kèm valproat), thường gặp các hội chứng  quá mẫn gây sốt, phát ban ngoài da, đau khớp, sưng hạch và nếu  không ngừng thuốc, có thể tiến triển sang suy gan – thận hoặc hội  chứng Stevens-Johnson hay hội chứng Lyell. Các phản ứng nặng  khác bao gồm viêm gan miễn dịch – dị ứng (đối với felbamat,  phenytoin, carbamazepin, valproat) và bất sản tủy không hồi phục  (với felbamat, carbamazepin). Ở một số người bệnh đã có tiền sử  loạn thần, vigabatrin có thể gây loạn thần cấp tính. Rất hiếm gặp  viêm tụy do valproat cũng như giảm tiểu cầu thường không rõ triệu  chứng. Topiramat cũng có khi gây glôcôm góc hẹp thứ phát. 

Các phản ứng không đặc ứng, tùy thuộc vào liều lượng thuốc và thời  gian sử dụng, có thể xuất hiện sớm, muộn hoặc lặng lẽ. Các thuốc  đã biết như phenobarbital, phenytoin, primidon, benzodiazepin  thường ảnh hưởng tới chức năng nhận thức và khả năng rèn tập.  Phenytoin có thể gây teo tiểu não. Vigabatrin dùng lâu dài có thể  gây hẹp thị trường đồng tâm. 

Ngoài ra một số tác dụng không mong muốn khác tùy thuộc vào  liều lượng và thời gian sử dụng bao gồm: Hội chứng tiền đình  – tiểu não khi quá liều phenytoin hoặc khi tăng quá nhanh liều  carbamazepin; hạ natri huyết do oxcarbazepin; bệnh não lú lẫn  do tiagabin; thèm ăn nhiều do valproat và vigabatrin; chán ăn do  felbamat và topiramat; ảnh hưởng tới thẩm mỹ khi điều trị lâu dài  (phenytoin và phenobarbital); đau khớp muộn do phenobarbital.

Một số vấn đề liên quan đến điều trị  

Thời kỳ mang thai 

Tương tác giữa thai nghén và động kinh là một vấn đề phức tạp và  được bàn luận nhiều. Ở phụ nữ có thai, người ta nhận thấy 1/4 số  trường hợp, tần số cơn động kinh có xu hướng tăng lên lúc đầu, lúc  cuối thai kỳ và ngay sau khi sinh con. Ngoài các nguy cơ đối với  thai phụ, các cơn động kinh có thể gây thiếu oxy nhất thời cho thai  nhi và gây đẻ non.  

Ở người phụ nữ động kinh có thai khi đang điều trị, có thể xem xét  sử dụng liều thuốc tối thiểu để ngừa cơn động kinh bằng cách nếu  có thể sẽ chuyển đa trị liệu sang đơn trị liệu và nên cho dùng loại  thuốc giải phóng kéo dài, theo dõi nồng độ huyết tương của thuốc.  Mặt khác có thể tăng số lần uống thuốc trong ngày. Nếu gia đình có  tiền sử gai đôi cột sống, nên tránh dùng valproat và carbamazepin.  Người bệnh cũng nên dùng bổ sung acid folic khoảng hai tháng  trước khi thụ thai, mỗi ngày 10 mg. Để đề phòng hội chứng chảy  máu ở trẻ em sơ sinh bị phơi nhiễm với các thuốc gây cảm ứng  men (phenobarbital, phenytoin, carbamazepin, primidon) có thể  cho thêm mỗi ngày 10 mg vitamin K bắt đầu từ tuần thụ thai thứ  36. Đồng thời phải cho dùng đều đặn thuốc kháng động kinh cho  tới ngày sinh con.  

Thời kỳ cho con bú 

Các thuốc kháng động kinh nói chung đều được phân bố vào sữa  mẹ, tuy nhiên nồng độ thuốc thường thấp hơn so với nồng độ thuốc  trong huyết tương người mẹ. Như vậy trẻ nhỏ bú sữa mẹ được cho  là an toàn đối với các thuốc kháng động kinh khi người mẹ dùng  liều thông thường. Các thuốc như carbamazepin, ethosuximid,  phenytoin, valproat thường có thể dùng khi phụ nữ cho con bú.  Cần thận trọng đối với phenobarbital và primidon vì các tác dụng  không mong muốn. Hiện chưa có nhiều tài liệu về các thuốc kháng  động kinh mới liên quan đến vấn đề trẻ bú sữa mẹ. 

Giảm liều thuốc và ngừng điều trị 

Điều trị động kinh thời gian lâu dài cần được lượng giá định kỳ.  Khi người bệnh được ổn định đã lâu, có thể xem xét giảm bớt số  lượng các thuốc phối hợp trong đa trị liệu. Thông thường trước tiên  có thể giảm hoặc bỏ bớt loại thuốc có hiệu lực thấp nhất, nhất là  khi đang kết hợp trên hai loại kháng động kinh. Điều quan trọng là  việc thay đổi liều lượng thuốc phải hết sức thận trọng, từng bước  và kéo dài trong nhiều tuần. 

Đối với trường hợp người bệnh đã không có cơn động kinh từ 2 – 5  năm, có thể cân nhắc việc giảm dần rồi ngừng điều trị. Việc giảm  dần liều có thể kéo dài từ 6 đến 18 tháng, đồng thời với việc tiếp  tục theo dõi lâm sàng và hình ảnh điện não.  

Kết luận 

Tiêu chuẩn chủ yếu của hiệu quả điều trị là kiểm soát được tối ưu  các cơn động kinh. Trên nguyên tắc, thầy thuốc điều trị phải theo  dõi diễn biến lâm sàng trong quá trình người bệnh được dùng

Nguồn: Dược Thư Quốc Gia