Từ khi đưa các thuốc chống retrovirus (ARV) vào điều trị người  bệnh nhiễm HIV tỷ lệ sống sót đã được cải thiện nhiều, tỷ lệ mắc  các nhiễm khuẩn cơ hội giảm ở người bị bệnh AIDS. Người được  điều trị ARV và được chăm sóc duy trì điều trị có thể sống nhiều  năm như một bệnh mạn tính, nhưng không khỏi bệnh. Mục đích  điều trị là làm ức chế sự nhân lên của virus trong máu, tạo phục hồi  hệ thống miễn dịch, cải thiện chất lượng sống. 

Có nhiều loại thuốc ARV tấn công virus bằng nhiều đường khác  nhau. Vì lý do đó, điều trị ngày nay bao giờ cũng phối hợp nhiều  thuốc. Các thuốc được dùng phổ biến nhất gồm 3 loại: Các thuốc  nucleosid ức chế enzym sao chép ngược (NRTI), các thuốc không  phải nucleosid ức chế enzym sao chép ngược (NNRTI) và các  thuốc ức chế protease. Một loại thuốc mới – thuốc ức chế đường  vào (entry inhibitors) – ngăn cản HIV vào tế bào T là điều tối quan  trọng để duy trì đáp ứng miễn dịch của người bệnh. Tất cả các  thuốc chống retrovirus đều có tác dụng không mong muốn khác  nhau và ảnh hưởng đến cách dùng thuốc thế nào và người bệnh  uống thuốc như thế nào. 

Vấn đề kháng thuốc rất quan trọng. Khi số lượng virus rất cao  trong máu, như lúc bắt đầu điều trị đòi hỏi phải tuân thủ dùng thuốc  đều. Nếu quên uống một vài liều ở giai đoạn này, nguy cơ phát triển  virus kháng thuốc cao hơn rất nhiều so với sau 6 tháng điều trị đều.  Để ngăn phát triển virus kháng thuốc, đòi hỏi phải tuân thủ dùng  thuốc ít nhất ở mức 95% trong thời gian điều trị và đặc biệt trong  6 tháng đầu. Điều này rất khó thực hiện. Khi bị kháng thuốc, phác  đồ điều trị bậc 1 không còn tác dụng, người bệnh bắt đầu bị nhiễm  khuẩn cơ hội và truyền virus kháng thuốc sang người khác. Lúc đó  phải thay sang phác đồ bậc 2 (hàng 2) đắt tiền hơn nhiều và có các  tác dụng không mong muốn khác phác đồ trước. 

Khi nào bắt đầu liệu pháp ARV ở người lớn và thiếu niên: Sau khi  được xác định chẩn đoán (theo Việt Nam): Mẫu huyết thanh dương  tính cả 3 lần với 3 loại sinh phẩm khác nhau. Tổ chức Y tế thế giới  (WHO) nhấn mạnh tầm quan trọng dùng các thông số lâm sàng để  quyết định khi nào thì bắt đầu cho điều trị. Tuy vậy, phân loại lâm  sàng để quyết định bắt đầu điều trị và giám sát liệu pháp ART được  tốt hơn nếu có thêm thông tin về số lượng tế bào CD4 lúc bắt đầu  và sau này điều trị.  

Sử dụng hợp lý thuốc kháng HIV cho người bệnh HIV/AIDS
Sử dụng hợp lý thuốc kháng HIV cho người bệnh HIV/AIDS

Chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS được thực hiện theo Hướng dẫn  chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS (Ban hành kèm theo Quyết định  số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế) và Quyết  định số 4139/QĐ-BYT ngày 02/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về  việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong “Hướng dẫn chẩn đoán  và điều trị HIV/AIDS” ban hành kèm theo Quyết định số 3003/ QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. 

Chuyên đề Sử dụng hợp lý thuốc kháng HIV cho người bệnh HIV/ AIDS trong Dược thư quốc gia Việt Nam được biên soạn ngắn gọn  dựa trên các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, với mong muốn  giúp thầy thuốc và cán bộ y tế có tài liệu tham khảo trong công tác  sử dụng các thuốc kháng HIV cho người bệnh HIV/AIDS. 

A. ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI LỚN NHIỄM HIV

I. ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC KHÁNG HIV (Điều trị ARV)

1. Các nhóm thuốc ARV được sử dụng tại Việt Nam 

Nhóm ức chế enzym sao chép ngược nucleosid và nucleotid  (NRTI). 

Nhóm ức chế enzym sao chép ngược không phải là nucleosid  (NNRTI). 

Nhóm ức chế enzym protease (PI). 

1.1. Nhóm ức chế enzym sao chép ngược nucleosid và nucleotid  (NRTI) 

 Abacavir (ABC) Zidovudin (AZT)  

 Didanosin (ddI) Stavudin (d4T) 

 Lamivudin (3TC) Tenofovir (TDF) 

1.2. Thuốc ức chế enzym sao chép ngược non-nucleosid (NNRTI) 

Efavirenz (EFV)

 Nevirapin (NVP) 

1.3. Thuốc ức chế protease (PI) 

 Atazanavir + Ritonavir (ATV/r)  

 Lopinavir/Ritonavir (LPV/r)  

 Ritonavir (RTV) 

Các loại thuốc ARV không nên kết hợp với nhau

Không nên kết hợp d4T với AZT (vì có hiện tượng đối kháng),  hoặc d4T kết hợp với ddI (dinanosin), hoặc ddI với ddc (zalcitabin)  hoặc d4T với ddc hoặc ddc với 3TC (lamivudin) vì sẽ làm tăng độc  tính của thuốc và gây nhiều phản ứng phụ. 

Khi dùng 3 loại thuốc ARV:  

Không nên kết hợp các thuốc tenofovir với lamivudin và với  abacavir, hoặc tenofovir với lamivudin và với didanosin vì làm  xuất hiện chủng đột biến kháng thuốc K65R và làm điều trị thất bại  vì ức chế virus rất sớm và tỷ lệ thất bại rất cao. 

Không kết hợp tenofovir với didanosin và bất kỳ loại thuốc ức chế  enzym sao chép ngược không thuộc nhóm nucleosid (NNRTI) vì  có tỷ lệ cao thất bại ức chế HIV. 

Thuốc ddI nên dùng cho phác đồ điều trị thứ 2. 

Không kết hợp nelfinavir với ritonavir. 

Xem hướng dẫn chi tiết về sử dụng các thuốc ARV trong các chuyên luận riêng. 

2. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV 

Người nhiễm HIV có số lượng tế bào TCD4 ≤ 350 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng hoặc  

Người nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3, 4, không phụ thuộc số  lượng tế bào TCD4.

3. Các phác đồ điều trị ARV bậc một 

3.1. Phác đồ chính 

 TDF + 3TC + EFV hoặc TDF + 3TC + NVP 

Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này cho tất cả các người  bệnh bắt đầu điều trị ARV. 

3.1.1. Phác đồ TDF + 3TC + EFV  

Liều lượng và cách sử dụng: 

TDF: Liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày. 

3TC: Liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày. 

EFV: Liều lượng 600 mg uống 1 lần/ngày vào buổi tối. Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và  định kỳ 6 tháng/lần. Điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận,  cụ thể như sau: 

Bảng 1. Độ thanh thải creatinin và liều TDF 

Độ thanh thải creatinin và liều TDF
> 50  ml/phút30 – 49  ml/phút10 – 29  ml/phút< 10  ml/phút
Ngày uống  1 lần 1 viên  TDF 300 mgHai ngày uống 1  lần 1 viên TDF  300 mg3 – 4 ngày  uống 1 lần 1 viên  TDF 300 mg  (tuần 2 viên)Không có  chỉ định  điều trị

3.1.2. Phác đồ TDF + 3TC + NVP

Liều lượng và cách sử dụng: 

TDF: Liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày. 

3TC: Liều lượng 300 mg 1 lần/ngày. 

NVP: Liều lượng 200 mg × 1 lần/ngày trong 2 tuần, sau đó tăng  lên 2 lần/ngày. 

Uống thuốc cách nhau 12 giờ, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no.  Xét nghiệm ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần. Thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị  số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ  nữ có CD4 > 250 tế bào/mm3

Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và  định kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận  (như trên). 

3.2. Phác đồ thay thế 

AZT + 3TC + EFV hoặc AZT + 3TC + NVP 

Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này khi người bệnh có  chống chỉ định với TDF. 

3.2.1. Phác đồ AZT + 3TC + EFV 

Liều lượng và cách sử dụng: 

AZT: Liều lượng 300 mg, 2 lần/ngày. 

3TC: Liều lượng 150 mg, 2 lần/ngày. 

EFV: Liều lượng 600 mg, 1 lần/ngày vào buổi tối. 

Uống AZT + 3TC cách nhau 12 giờ, EFV vào buổi tối. Không dùng  EFV cùng thức ăn có nhiều chất béo. 

Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần  hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu

Không bắt đầu điều trị phác đồ này cho người bệnh khi Hgb < 80  g/lít và/hoặc phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu. Không dùng EFV  cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử). 

3.2.2. Phác đồ AZT + 3TC + NVP 

Liều lượng và cách sử dụng: 

AZT: Liều lượng 300 mg 2 lần/ngày. 

3TC: Liều lượng 150 mg 2 lần/ngày. 

NVP: Liều lượng 200 mg 1 lần/ngày, trong 2 tuần, sau đó tăng lên  2 lần/ngày.

Uống AZT + 3TC cách nhau 12 giờ, có thể uống lúc đói hoặc lúc  no.  

Xét nghiệm ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần. Thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị  số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ  nữ có CD4 > 250 tế bào/mm3

Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và  định kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận  (như trên). 

4. Tác dụng không mong muốn (ADR) của các thuốc ARV và  xử trí 

Phân loại mức độ tác dụng không mong muốn của các thuốc ARV  và xử trí (xem trong các chuyên luận riêng). 

4.1. Tác dụng không mong muốn nhẹ của thuốc ARV: Xuất hiện sớm và có thể tự khỏi. 

Bảng 2. Những tác dụng không mong muốn nhẹ  

của các thuốc ARV và xử trí 

Các triệu chứng Xử trí
Buồn nôn Nên uống thuốc cùng với thức ăn.
Tiêu chảy Bù nước và điện giải. Có thể sử dụng  loperamid.
Đau đầu Dùng paracetamol. Nếu liên tục trong 2 tuần  cần khám lại.
Mệt mỏi Thường chỉ kéo dài 4 – 6 tuần, nếu lâu hơn  cần thăm khám lại.
Khó chịu ở bụng Nếu xuất hiện liên tục cần khám lại.
Nổi mẩn nhẹĐiều trị bằng thuốc kháng histamin. Nếu  nặng, xem xét khả năng có phản ứng quá mẫn  với thuốc.
Buồn ngủ Uống thuốc trước khi đi ngủ.
Mất ngủCó thể dùng thuốc hỗ trợ. Nếu người bệnh  mất ngủ nhiều do EFV, có thể chuyển EFV  sang uống buổi sáng nhưng không nên sử  dụng máy móc hoặc lái xe.
Ác mộng,  chóng mặtThường xảy ra khi uống EFV và kéo dài  không quá 3 tuần.

4.2. Xử trí một số tác dụng không mong muốn chủ yếu trong  điều trị ARV bậc 1 

4.2.1. Thiếu máu do AZT 

Thiếu máu thường xảy ra trong 4 – 6 tuần đầu sử dụng AZT. Cần loại trừ các nguyên nhân khác gây ra thiếu máu hoặc suy tuỷ.

Bảng 3. Xác định mức độ thiếu máu và xử trí 

Mức độ Hgb (g/lít) Xử trí
Mức độ 1  (Nhẹ) 80 – 94 Tiếp tục dùng AZT. Bổ sung vi chất: Vitamin B12, viên sắt,  acid folic, tư vấn về chế độ ăn. Xét nghiệm công thức máu lại sau 1, 3  tháng. Nếu tình trạng người bệnh ổn định  hoặc cải thiện thì tiếp tục dùng AZT và tư  vấn về khẩu phần ăn thích hợp.
Mức độ 2  (Trung  bình)70 – 79
Mức độ 3  (Nặng) 65 – 69 Thay AZT bằng d4T hoặc TDF sau khi  loại trừ các nguyên nhân khác có thể gây  thiếu máu hoặc suy tuỷ. Truyền khối hồng cầu hoặc máu toàn  phần. Bổ sung vi chất, vitamin B12, viên sắt, acid  folic.
Mức độ 4  (Nặng đe  dọa tính  mạng)Hgb < 65

4.2.2. Phát ban do NVP 

Thường xảy ra trong 2 – 8 tuần đầu điều trị. 

Theo dõi người bệnh chặt chẽ và đánh giá mức độ phát ban. Tư vấn  cho người bệnh đến tái khám ngay khi phát ban nặng lên, hoặc phát  ban kèm theo triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi,… Điều trị triệu chứng, sử dụng kháng histamin hoặc steroid tùy mức  độ và theo dõi chặt chẽ diễn biễn lâm sàng và xét nghiệm ALT.

Bảng 4: Xử trí về điều trị ARV theo mức độ phát ban 

Mức độ Biểu hiện Xử trí
Mức độ 1 (Nhẹ)Ban đỏ, không  kèm theo các  triệu chứng khácTiếp tục NVP, có thể trì hoãn  việc tăng liều NVP thêm vài  ngày đến khi tình trạng phát  ban được cải thiện (chú ý không  nên sử dụng NVP 200 mg/ngày  quá 3 tuần). 
Mức độ 2  (Trung bình)Ban sẩn lan tỏa  hoặc bong tróc da  khô khu trú
Mức độ 3  (Nặng)Ban đỏ toàn thân  hoặc bọng nước  phồng rộp hoặc  tróc da ướtNgừng dùng ngay NVP. Tiếp  tục uống 2 thuốc còn lại trong  7 ngày sau đó thay NVP bằng  EFV nếu phát ban đã cải thiện  hoặc Nếu sau 7 ngày phát ban  chưa cải thiện hoàn toàn, nên  ngừng tiếp 2 thuốc còn lại.  Khi người bệnh hồi phục,  thay NVP bằng EFV và tiếp  tục dùng hai thuốc còn lại. 
Mức độ 4  (Nặng đe dọa  tính mạng)Tổn thương cả  niêm mạc và các  hốc tự nhiên, hội  chứng Steven Johnson, ban đỏ  đa dạngNgừng toàn bộ các thuốc,  nhập viện hoặc chuyển tuyến. Chỉ điều trị ARV lại khi  người bệnh hoàn toàn hồi  phục. Thay NVP bằng EFV  hoặc TDF hoặc LPV/r.

4.2.3. Nhiễm độc gan do NVP 

Xét nghiệm ALT trước khi điều trị. Xét nghiệm HBsAg và anti  HCV nếu có điều kiện. 

Các biểu hiện: ALT tăng cao, có thể kèm hoặc không kèm theo các  triệu chứng lâm sàng như phát ban, sốt, khó chịu, nôn, buồn nôn,  hoàng đản, đau bụng. Hay gặp nhất sau khi điều trị ARV được vài  tuần đến vài tháng, 

Nguy cơ nhiễm độc gan cao ở (1) phụ nữ mang thai có CD4 > 250  tế bào/mm3, (2) người bệnh có ALT trước điều trị cao, (3) người  bệnh đồng nhiễm HIV và viêm gan B hoặc C và (4) người bệnh lao  đang điều trị bằng phác đồ có rifampicin. 

Theo dõi chặt chẽ chức năng gan đối với người bệnh sử dụng NVP,  đặc biệt là đối với người bệnh có yếu tố nguy cơ nói trên.

Bảng 5. Xử trí điều trị ARV theo mức độ ALT 

Mức độ ALT Xử trí
Mức độ 1  (Nhẹ)Tăng 1,25 – 2,50 lần  so với bình thường Tiếp tục sử dụng NVP. Theo dõi chặt chẽ ALT  2 tuần/lần.
Mức độ 2 (Trung bình)Tăng 2,5 – 5 lần so  bình thường
Mức độ 3  (Nặng)Tăng 5 – 10 lần so  bình thườngNGỪNG ngay NVP. Tiếp  tục uống 2 thuốc còn lại  trong 7 ngày sau đó thay  NVP bằng EFV nếu ALT  đã cải thiện hoặc Nếu như ALT vẫn chưa  cải thiện thì ngừng tiếp  2 thuốc còn lại. Chỉ điều  trị lại ARV và thay NVP  bằng EFV khi ALT đã cải  thiện.
Mức độ 4  (Nặng đe dọa  tính mạng)Tăng > 10 lần so  bình thườngKết hợp chặt chẽ giữa  ALT và lâm sàng để có  quyết định phù hợp. Có thể ngừng toàn bộ các  thuốc, nhập viện hoặc  chuyển tuyến. Tùy từng  trường hợp có thể bắt đầu  điều trị lại ARV và thay  NVP bằng EFV, hoặc  TDF hoặc LPV/r.

4.2.4. Các tác dụng không mong muốn khác và xử trí

Bảng 6. Các tác dụng không mong muốn khác và xử trí 

Thuốc  ARVĐộc tính,  ADR hay gặp Xử trí
TDFĐộc tính với thận Ảnh hưởng lên sự  phát triển xươngGiảm liều khi có suy thận. Thay  TDF bằng AZT hoặc ABC.  Tránh sử dụng cho PNMT và  trẻ em.
EFVNhiễm độc nặng dai  dẳng hệ thần kinh  trung ương. Có thể gặp chứng vú  to ở namThay EFV bằng NVP hoặc TDF  hoặc LPV/r.
Phát ban, ngộ độc ganTương tự như đối với NVP.  Mức độ 3, 4: thay EFV bằng  TDF hoặc LPV/r.
Gây dị dạng thai ở  phụ nữ mang thaiKhông sử dụng EFV trong 3  tháng đầu. (xem phần sử dụng ARV cho  phụ nữ mang thai).

5. Thất bại điều trị ARV và các phác đồ bậc hai

5.1. Theo dõi kết quả trong 6 tháng đầu điều trị

Các tháng đầu của liệu pháp ARV có tính quyết định. Cải thiện lâm  sàng và sinh học không phải bao giờ cũng rõ và cơ thể xuất hiện  nhiễm độc. Ức chế virus nhân lên và phục hồi miễn dịch phải có  thời gian. Tăng cân cũng không phải có ngay, nhất là những người  gầy nhiều do nhiễm khuẩn cơ hội. Khi chưa thấy có cải thiện rõ lúc  đầu điều trị AVR không có nghĩa là có đáp ứng xấu đối với điều  trị. Khi chức năng miễn dịch phục hồi, tình trạng bệnh có thể nặng  lên (thí dụ bệnh lao lại phát triển), không phải do điều trị thất bại  mà là hệ miễn dịch được phục hồi. Hội chứng viêm do phục hồi  miễn dịch (Hội chứng IRIS: Immune reconstitution inflammatory  syndrome). 

5.2. Nhiễm độc sớm của liệu pháp ARV 

Nhiễm độc do dùng phác đồ bậc 1 có thể xếp thành 2 loại: Nhiễm  độc sau vài tuần hoặc tháng và nhiễm độc muộn hơn. Nhiễm độc  sớm hay gặp và có tiềm năng nặng gồm có mẫn cảm với các thuốc  NNRTI (EFV và NVP) thông thường xuất hiện trong vài tuần đầu  điều trị. Nếu không được phát hiện sớm, có thể gây tử vong (xem  thêm trong chuyên luận riêng). 

5.3. Đánh giá thất bại điều trị 

Phải hết sức thận trọng khi đánh giá thất bại điều trị: Quá sớm hoặc  quá muộn đều ảnh hướng đến tiên lượng bệnh. 

Chỉ xem xét thất bại điều trị khi người bệnh đã uống ARV đúng  phác đồ 3 thuốc trong ít nhất 6 tháng, người bệnh tuân thủ tốt. Các  biểu hiện xuất hiện trong vòng 6 tháng sau khi bắt đầu điều trị ARV  thường là nhiễm trùng cơ hội, hội chứng viêm phục hồi miễn dịch  hoặc các tác dụng không mong muốn của thuốc. 

Tiêu chuẩn đánh giá thất bại điều trị: 

Bảng 7. Tiêu chuẩn đánh giá thất bại điều trị ARV 

Thất bại về lâm  sàngXuất hiện mới hoặc tái phát các bệnh lý giai  đoạn lâm sàng 4 sau điều trị ít nhất 6 thánga, b.
Thất bại về miễn  dịch họccCD4 giảm xuống bằng hoặc dưới mức CD4  ban đầu trước điều trị, hoặc CD4 giảm dưới một nửa so với mức CD4 cao  nhất đạt được (nếu biết giá trị này), hoặc CD4 dưới 100 tế bào/mm3 máu liên tục trong  1 năm liền không tăng.
Thất bại về virus  họcTải lượng virus đo được trên 5 000 phiên bản/ml.

Ghi chú: 

(a) Một số bệnh lý giai đoạn lâm sàng 4 như lao hạch, lao màng  phổi, nấm candida thực quản, viêm phổi tái phát không được coi là  chỉ điểm thất bại điều trị. Điều trị các bệnh lý này, nếu người bệnh  đáp ứng tốt, tiếp tục phác đồ bậc 1. (b) Một số bệnh lý giai đoạn lâm sàng 3 (như lao phổi, nhiễm vi  khuẩn nặng) có thể là chỉ điểm của thất bại điều trị. Lao xuất hiện  sau 6 tháng điều trị ARV được coi là thất bại điều trị khi đi kèm với  thất bại về miễn dịch học hoặc thất bại về virus học. Nếu không thực hiện được các xét nghiệm này, xem xét thất bại điều trị nếu  người bệnh có các bệnh lý khác thuộc giai đoạn lâm sàng 3, 4 hoặc  người bệnh bị lao lan tỏa. 

(c) Các bệnh lý kèm theo thường làm giảm tạm thời số CD4; điều  trị các bệnh lý này trước, làm xét nghiệm CD4 khi tình trạng người  bệnh đã ổn định. 

(d) Đo tải lượng virus là xét nghiệm chính xác nhất để khẳng định  hoặc loại trừ thất bại điều trị. Thay đổi phác đồ khi tải lượng virus  > 5 000 phiên bản/ml trong hai lần xét nghiệm cách nhau ít nhất  1 tháng. 

5.4. Lựa chọn phác đồ bậc hai 

 Bảng 8. Lựa chọn phác đồ bậc 2 

Đang dùng phác  đồ bậc 1 Chuyển sang phác đồ bậc 2
TDF + 3TC +  NVP/EFV AZT + 3TCLPV/r hoặc ATV/r
AZT + 3TC +  NVP/EFV TDF + 3TC

5.4.1 Liều dùng và cách dùng của các thuốc phác đồ bậc 2

Tenofovir: 300 mg uống 1 lần /ngày.

Abacavir: 300 mg uống 2 lần/ngày, cách nhau 12 giờ hoặc 600 mg  uống 1 lần/ngày. 

Didanosin: cân nặng < 60 kg: 250 mg/ngày; cân nặng ≥ 60 kg:  400 mg/ngày. 

Lopinavir/ritonavir: 400 mg/100 mg uống 2 lần/ngày, cách nhau 12  giờ. LPV/r viên nang nên uống khi no; LPV/r viên nén có thể uống  lúc đói hoặc lúc no. 

Atazanavir/ritonavir: 300 mg/100 mg uống 1 lần/ngày. Lamivudin và zidovudin: Liều lượng và cách dùng như trong phác  đồ bậc một. 

5.4.2. Độc tính của một số thuốc ARV trong phác đồ bậc hai và  cách xử trí 

Bảng 9. Độc tính của một số thuốc ARV trong phác đồ bậc hai và cách xử trí 

Thuốc  ARVĐộc tính,  ADR hay gặp Xử trí
TDFĐộc tính với thận. Ảnh hưởng lên sự  phát triển xương.Giảm liều khi có suy thận. Thay  TDF bằng ABC. Tránh sử dụng cho PNMT và trẻ em.
LPV/r Viêm gan.Đánh giá mức độ tăng men gan.  Tăng mức độ 1, 2: tiếp tục phác đồ  và theo dõi; tăng mức độ 3: Thay  NVP bằng EFV (nếu có); tăng mức  độ 4: Ngừng ARV và theo dõi; khi  hồi phục có thể bắt đầu lại ARV,  thay LPV/r bằng một thuốc PI khác.
Rối loạn chuyển  hóa mỡ: Tích tụ  mỡ (nội tạng, vú,  cổ); tăng lipid máu;  rối loạn chuyển  hóa glucose (đái  tháo đường kháng  insulin, tăng nguy  cơ mắc bệnh tim  mạch, viêm tuỵ).Tăng cholesterol và triglycerid  mức độ 1 hoặc 2 – áp dụng chế  độ ăn kiêng, tập luyện, theo dõi;  tăng mức độ 3 hoặc 4 – cho dùng  các thuốc fibrate (fenofibrat  600 mg, dùng 1 – 2 lần/ngày); điều  trị tăng cholesterol bằng các thuốc  statin (tránh dùng simvastatin và  lovastatin do có tương tác thuốc).
ATV/rTăng bilirubin gián  tiếp trong máu.Thường không có triệu chứng, hoặc  gây vàng mắt nhẹ mà không tăng  ALT. Thay ATV bằng một PI khác.
Rối loạn chuyển  hóa mỡ: Tích tụ  mỡ (nội tạng, vú,  cổ); tăng lipid máu;  rối loạn chuyển  hóa glucose (đái  tháo đường kháng  insulin, tăng nguy  cơ mắc bệnh tim  mạch, viêm tuỵ).Xử trí tương tự như đối với rối loạn  chuyển hóa mỡ do LPV/r
Blốc nhĩ thất độ 1  (PR kéo dài trên  điện tim).Sử dụng thận trọng ở người bệnh  có rối loạn dẫn truyền tim tiềm tàng  hoặc người bệnh sử dụng đồng thời  các thuốc gây PR kéo dài.

5.4.3. Theo dõi người bệnh điều trị phác đồ bậc 2

Đảm bảo tuân thủ điều trị. 

Theo dõi các tương tác thuốc khi dùng LPV/r. 

Đánh giá đáp ứng về lâm sàng và miễn dịch (CD4) tương tự như  đối với phác đồ bậc 1. 

6. Điều trị ARV ở các đối tượng đặc biệt 

6.1. Điều trị ARV cho người bệnh lao/HIV 

Người bệnh lao/HIV luôn có nguy cơ tử vong cao hơn những người  nhiễm HIV không bị lao, do vậy cần được chỉ định điều trị ARV  kịp thời. 

Cần tư vấn về việc uống nhiều loại thuốc, lưu ý vấn đề tương tác  giữa các thuốc ARV với các thuốc chống lao như rifampicin và  nguy cơ ngộ độc gan. 

6.1.1. Bắt đầu điều trị ARV trên người bệnh mắc lao đồng nhiễm  HIV 

Bảng 10. Các phác đồ bậc 1 cho người bệnh lao/HIV bắt đầu điều trị ARV

a. Người bệnh đang điều trị lao phác đồ có rifampicin và bắt đầu  điều trị ARV: 
Phác đồ chính: AZT hoặc d4T + 3TC + EFV  
Phác đồ thay thế: Khi không có EFV, hoặc phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu và CD4 <  250 tế bào/mm3: AZT hoặc d4T + 3TC + NVP 
Phụ nữ có thai 3 tháng đầu và CD4 > 250 tế bào/mm3: AZT + 3TC  + NVP và theo dõi chặt chẽ tác dụng không mong muốn NVP hoặc  AZT + 3TC + ABC hoặc AZT + 3TC + LVP 400 mg/ RTV 400 mg. 
Người bệnh không sử dụng được NVP và EFV: AZT + 3TC + TDF
Lưu ý: Tránh sử dụng phác đồ này cho phụ nữ có thai, nếu có thể
Liều lượng và cách dùng giống như người nhiễm HIV không mắc  lao, trừ RTV tăng lên từ 100 mg lên 400 mg. 
b. Người bệnh đang điều trị lao giai đoạn không có rifampicin:
Lựa  chọn phác đồ bậc 1 giống như người nhiễm HIV không mắc lao.

6.1.2. Người bệnh đang điều trị ARV mắc lao 

Người bệnh đang điều trị ARV mắc lao có thể do hội chứng viêm  phục hồi miễn dịch (trong 6 tháng đầu điều trị) hoặc do mắc lao  mới, hoặc thất bại điều trị. 

6.1.2.1. Người bệnh đang điều trị ARV mắc lao 

Điều trị lao theo hướng dẫn điều trị lao quốc gia. Điều chỉnh các  thuốc trong phác đồ điều trị ARV nếu cần.

Bảng 11. Điều trị ARV cho người bệnh đang điều trị lao có rifampicin 

Phác đồ điều trị  ARV hiện tạiPhác đồ điều trị ARV khi người bệnh  mắc lao điều trị phác đồ có rifampicin
Phác đồ điều trị ARV bậc 1
d4T hoặc AZT  + 3TC + EFV Tiếp tục phác đồ có EFV
d4T hoặc AZT  + 3TC + NVP– Thay NVP bằng EFV – Nếu không có EFV, hoặc người bệnh có  thai, hoặc không dung nạp EFV, tiếp tục điều  trị với phác đồ cũ có NVP liều thông thường  nhưng khám lâm sàng và theo dõi men gan  chặt chẽ định kỳ 2 tuần/1 lần, hoặc – Thay sang phác đồ: AZT + 3TC + TDF
Phác đồ điều trị ARV bậc 2
2 NRTI + LPV/rChuyển sang hoặc tiếp tục (nếu đang sử  dụng) phác đồ bậc 2 có LVP 400 mg/RTV  400 mg

Nếu tình trạng của người bệnh nặng và không thể tiếp tục các thuốc  ARV, ngừng tạm thời điều trị ARV để điều trị lao. Khi người bệnh  ổn định, bắt đầu điều trị lại ARV bằng phác đồ đang dùng trước đó,  lưu ý tương tác thuốc (Phụ lục 5). 

Sau khi kết thúc điều trị rifampicin, có thể cân nhắc sử dụng lại  NVP và dùng ngay liều NVP 200 mg x 2 lần/ngày. 

6.1.2.2. Chỉ định phác đồ bậc 2 cho người bệnh lao đang điều trị  ARV phác đồ bậc 1 có thất bại điều trị 

Phác đồ bậc 2 khi điều trị phác đồ lao có rifampicin tương tự như  phác đồ cho người bệnh không mắc lao và tăng liều ritonavir: LVP  400 mg/RTV 400 mg. 

Theo dõi chặt chẽ lâm sàng và xét nghiệm để phát hiện nhiễm độc gan. 

6.2. Điều trị ARV cho người bệnh đồng nhiễm HIV và viêm  gan B, C 

Tiêu chuẩn điều trị ARV trên người bệnh viêm gan B và C cũng  giống như đối với các người bệnh khác. 

Lưu ý các vấn đề tương tác thuốc và ngộ độc gan để lựa chọn phác  đồ ARV cho phù hợp. 

6.2.1. Điều trị ARV cho người bệnh đồng nhiễm HIV với viêm  gan B 

6.2.1.1. Lựa chọn phác đồ điều trị ARV cho người bệnh đồng nhiễm  HIV với viêm gan B 

Phác đồ điều trị: TDF + 3TC + EFV 

Một số lưu ý: 

EFV là lựa chọn tốt nhất để điều trị cho người bệnh đồng nhiễm  HIV/viêm gan B hoặc khi có biểu hiện lâm sàng viêm gan hoặc  men gan tăng. 

Khi không có EFV, sử dụng NVP khi người bệnh có men gan cao  nhưng phải theo dõi chặt chẽ. 

6.2.1.2. Xử trí đợt bùng phát viêm gan B khi đang điều trị ARV Đợt bùng phát viêm gan B (VGB) dễ xảy ra trên người bệnh đồng  nhiễm HIV/VGB trong vài tháng đầu tiên điều trị ARV, có thể là  biểu hiện của hội chứng viêm phục hồi miễn dịch, hoặc do ngừng  ARV có tác dụng điều trị viêm gan B (3TC, TDF). 

Biểu hiện: Men gan tăng cao và nhanh, kèm theo các triệu chứng  của viêm gan cấp (mệt mỏi, đau bụng, vàng da). Đôi khi khó chẩn đoán phân biệt với ngộ độc gan do ARV. 

Nếu men gan tăng mức độ 3 và tình trạng người bệnh ổn định, tiếp  tục điều trị ARV, sử dụng các thuốc ít độc hơn với gan như EFV;  theo dõi chặt chẽ men gan (2 tuần/lần) và các dấu hiệu lâm sàng. Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh đồng nhiễm HIV/VGB khi phải  

ngừng các thuốc ARV trong đó có 3TC, TDF. 

6.2.2. Điều trị ARV cho người bệnh đồng nhiễm HIV với viêm  gan C 

Điều trị giống như người nhiễm HIV không mắc viêm gan C, tốt  nhất sử dụng phác đồ có EFV. 

Lưu ý khi sử dụng ARV trên người bệnh đồng nhiễm viêm gan C: Các thuốc điều trị ARV không có tác dụng điều trị viêm gan C. Điều trị viêm gan C nếu có điều kiện bằng interferon, ribavirin  (RBV). Nồng độ AZT tăng khi sử dụng đồng thời AZT và RBV;  theo dõi chặt chẽ độc tính AZT. Người bệnh đáp ứng tốt với điều  trị viêm gan C khi số CD4 trên 200 tế bào/mm3

6.2.3. Điều trị ARV trên người bệnh có ALT ban đầu cao hoặc  không biết tình trạng nhiễm viêm gan B, C 

Xét nghiệm men gan theo quy định cho tất cả các người bệnh trước  khi bắt đầu điều trị ARV. 

Xét nghiệm HBsAg, anti-HCV trước điều trị hoặc khi men gan  tăng, nếu có điều kiện. 

Khi men gan tăng, biết hoặc không biết tình trạng nhiễm viêm gan  B, C, nên sử dụng phác đồ có EFV. 

6.3. Điều trị ARV cho người nghiện chích ma túy

Phác đồ điều trị ARV cho người nhiễm HIV nghiện chích ma túy

Lựa chọn phác đồ bậc 1 tương tự như các người bệnh khác. Phác đồ chính: AZT hoặc d4T + 3TC + NVP 

Phác đồ thay thế: AZT hoặc d4T + 3TC + EFV 

Lưu ý: 

Xét nghiệm HBsAg và anti-HCV nếu có điều kiện trước khi điều  trị ARV. Nếu người bệnh có men gan tăng và hoặc có HBsAg và  hoặc anti-HCV (+): xem phần điều trị ARV cho người bệnh đồng  nhiễm HIV, viêm gan B, C. 

EFV/NVP làm giảm nồng độ methadon trên người bệnh đang điều  trị methadon dễ gây hội chứng cai. Xem xét tăng liều methadon. Lựa chọn phác đồ bậc 2 tương tự như các người bệnh khác, lưu  ý LPV, RTV làm giảm nồng độ methadon gây ra hội chứng cai ở  những người bệnh đang điều trị methadon. 

II. ĐIỀU TRỊ ARV Ở PHỤ NỮ MANG THAI VÀ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON  

Nguyên tắc 

Cần phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai  (PNMT) để áp dụng các biện pháp can thiệp dự phòng lây truyền  HIV từ mẹ sang con (DPLTMC), bao gồm dự phòng bằng ARV,  dùng sữa thay thế cho con và giới thiệu các dịch vụ chăm sóc và  điều trị sau sinh. 

PNMT nhiễm HIV cần được hội chẩn với cơ sở chăm sóc và điều  trị HIV/AIDS để xem xét điều trị bằng ARV hay điều trị DPLTMC. PNMT được ưu tiên điều trị ARV khi đủ tiêu chuẩn; quá trình  chuẩn bị sẵn sàng điều trị có thể rút ngắn để việc dự phòng bằng  ARV kịp thời và hiệu quả. 

Cần sử dụng phác đồ DPLTMC hiệu quả nhất. Người phụ nữ sau  khi sinh cần được đánh giá lại về lâm sàng và miễn dịch để xem xét  chỉ định điều trị ARV. Nếu không có chỉ định, điều trị ARV được  dừng lại hoàn toàn; nếu có chỉ định, sử dụng phác đồ ARV phù hợp  như người lớn khác. 

1. Điều trị ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV

Điều trị ARV: Sử dụng lâu dài các thuốc ARV để điều trị cho  PNMT nhiễm HIV cũng như dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang  con. 

1.1. Bắt đầu điều trị ARV cho PNMT 

1.1.1. Chỉ định điều trị ARV cho PNMT 

Tiêu chuẩn chỉ định điều trị ARV cho PNMT nhiễm HIV như tiêu  chuẩn chỉ định điều trị ARV cho người lớn nhiễm HIV.

1.1.2. Phác đồ điều trị ARV cho PNMT nhiễm HIV Phác đồ ưu tiên:

AZT + 3TC + NVP 

Sử dụng trong suốt thời gian mang thai, trong khi sinh và sau khi  sinh. Liều dùng của các thuốc ARV cho PNMT giống như ở người  nhiễm HIV người lớn khác. 

Theo dõi chặt chẽ chức năng gan, nhất là ở PNMT có CD4 từ 250  đến 350 tế bào/mm3. Xét nghiệm ALT lúc bắt đầu điều trị, 2 tuần  một lần trong tháng đầu tiên, 1 tháng 1 lần từ tháng thứ 2 đến tháng  thứ 4, và sau đó từ 1 đến 3 tháng 1 lần. Thay sang phác đồ phù hợp  khi có độc tính với gan. 

Phác đồ thay thế:  

Khi không sử dụng được AZT: Thay AZT bằng d4T hoặc ABC. Khi không sử dụng được NVP do phát ban và ngộ độc: Áp dụng  một trong các lựa chọn sau theo thứ tự ưu tiên: 

 AZT + 3TC + EFV (nếu thai > 12 tuần); hoặc 

 AZT + 3TC + LPV/r hoặc 

 AZT + 3TC + ABC. 

Lưu ý: 

PNMT nhiễm HIV mắc lao tiến triển được điều trị lao bằng phác đồ  có rifampicin cần lưu ý đến tương tác thuốc với NVP hoặc/và độc  tính của EFV trong 3 tháng đầu khi lựa chọn phác đồ điều trị ARV  (xem phần điều trị ARV cho người bệnh lao/HIV). 

Sau khi sinh mẹ có thể tiếp tục phác đồ đang sử dụng hoặc chuyển  về phác đồ bậc 1 chính. 

1.2. Phụ nữ đang điều trị ARV thì có thai 

Phụ nữ đang điều trị ARV thì có thai: Tiếp tục điều trị ARV và lưu  ý: 

Những người phụ nữ đang sử dụng phác đồ có EFV và thai < 12  tuần: Thay EFV bằng NVP (cho ngay liều 200 mg x 2 lần/ngày)  hoặc các phác đồ thay thế phù hợp. Tư vấn về nguy cơ ảnh hưởng  đến thai và thảo luận về kế hoạch giữ thai hoặc không giữ thai với  PNMT… 

Có thể tiếp tục sử dụng phác đồ có EFV trong 3 tháng giữa và 3  tháng cuối của thai kỳ, nếu có chỉ định. 

1.3. Phác đồ điều trị dự phòng cho trẻ sinh ra từ các bà mẹ điều  trị ARV 

Nếu mẹ điều trị ARV trước sinh trên 4 tuần: 

Sirô AZT 4 mg/kg hai lần một ngày x 7 ngày. 

Nếu mẹ điều trị ARV trước sinh chưa đủ 4 tuần: 

Siro AZT 4 mg/kg hai lần một ngày x 4 tuần. 

1.4. Phác đồ điều trị ARV cho phụ nữ sau sinh con có tiền sử  được dự phòng lây truyền mẹ con bằng liều đơn NVP

Nếu có chỉ định điều trị ARV trong vòng 6 – 12 tháng sau sinh: Có thể chỉ định phác đồ bậc 1 như đối với các người bệnh HIV  khác (xem phần điều trị ARV cho người lớn). 

Sử dụng phác đồ: AZT + 3TC + TDF, hoặc thay NVP hoặc EFV  bằng LPV/r, nếu có điều kiện để tránh kháng thuốc Nếu có chỉ định điều trị ARV sau 6 – 12 tháng sau sinh: Chỉ định  phác đồ bậc 1 như đối với các người bệnh HIV khác. 

2. Điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng ARV 2.1. Các đối tượng cần điều trị DPLTMC bằng ARV

Phụ nữ mang thai nhiễm HIV chưa đủ tiêu chuẩn điều trị ARV (giai  đoạn lâm sàng 1 – 2 và CD4 > 350 tế bào/mm3). 

PNMT nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị ARV nhưng không có  điều kiện điều trị ARV, hoặc 

PNMT nhiễm HIV không được quản lý trong thời kỳ mang thai  hoặc phát hiện nhiễm HIV muộn khi chuyển dạ và khi đẻ. Trẻ em sinh ra từ những người mẹ nhiễm HIV. 

2.2. Các phác đồ ARV cho mẹ và con trong

DPLTMC 2.2.1. Phác đồ ưu tiên AZT + liều đơn NVP  

Bảng 12. Phác đồ dự phòng lây truyền mẹ – con bằng AZT + liều đơn NVP 

MẹKhi mang  thaiAZT 300 mg x 2 lần/ngày, uống hàng ngày  từ tuần thai thứ 14 hoặc ngay khi phát hiện  nhiễm HIV sau tuần thai thứ 14 cho đến khi  chuyển dạ.
Khi chuyển  dạNVP 200 mg + AZT 600 mg  + 3TC 150 mg. Sau đó 12 giờ một lần AZT 300 mg  + 3TC 150 mg cho đến khi đẻ.
Sau đẻ AZT 300 mg + 3TC 150 mg ngày 2 lần  trong 7 ngày.
ConNgay sau  khi sinhNVP liều đơn 6 mg, uống một lần ngay sau  khi sinh + AZT 4 mg/kg uống ngày 2 lần.
Sau sinh Tiếp tục AZT 4 mg/kg uống 2 lần một  ngày, trong 4 tuần

Bổ sung phác đồ: AZT + 3TC + LPV/r: 

Mẹ: Uống hàng ngày từ tuần thai thứ 14 hoặc ngay khi phát hiện  nhiễm HIV sau tuần thai thứ 14 cho đến khi sinh con. Nếu người  mẹ không cho con bú sữa mẹ thì dừng uống, nếu người mẹ cho  con bú sữa mẹ tiếp tục uống hàng ngày cho đến khi sau cai sữa  một tuần. 

Liều lượng: AZT 300 mg/lần x 2 lần/ngày. 

 3TC 150 mg/lần x 2 lần/ngày. 

 LPV/r 400/100 mg/lần x 2 lần/ngày.  

Con: AZT 4 mg/kg uống 2 lần một ngày trong 4 tuần. Lưu ý: AZT có thể gây thiếu máu ở phụ nữ mang thai, tuy không  phổ biến. Theo dõi tình trạng thiếu máu lâm sàng, xét nghiệm  hemoglobin thường xuyên, điều trị thiếu máu nếu có.

2.2.2. Phác đồ dự phòng LTMC khi PNMT được phát hiện nhiễm  HIV trong lúc chuyển dạ 

Chỉ định khi người PNMT nhiễm HIV không được quản lý trong  thời kỳ mang thai, hoặc được phát hiện nhiễm HIV muộn khi  chuyển dạ và khi đẻ. 

Bảng 13. Phác đồ dự phòng lây truyền mẹ – con 

khi PNMT được phát hiện nhiễm HIV trong lúc chuyển dạ 

MẹKhi  chuyển dạKhi bắt đầu chuyển dạ: NVP 200 mg + AZT 600 mg + 3TC 150 mg. Sau đó 12 giờ một lần AZT 300 mg + 3TC  150 mg cho đến lúc đẻ.
Sau đẻ (AZT 300 mg + 3TC 150 mg) 12 giờ một lần  x 7 ngày.
ConNVP liều đơn 6 mg, uống một lần ngay sau khi  sinh + AZT 4 mg/kg uống 2 lần một ngày x 4  tuần.

Lưu ý: 

a. Đối với PNMT có xét nghiệm sàng lọc HIV dương tính khi  chuyển dạ: Tư vấn và cho điều trị dự phòng ngay, làm chẩn đoán  khẳng định sau. Nếu xét nghiệm khẳng định âm tính, ngừng các  can thiệp dự phòng. 

b. Không sử dụng ARV dự phòng cho mẹ khi tiên lượng mẹ sẽ sinh  trong vòng 1 giờ; Trong trường hợp mẹ không được sử dụng ARV  vẫn thực hiện phác đồ dự phòng ARV cho con như trên. c. Khi không sẵn có AZT, vẫn sử dụng NVP liều đơn cho mẹ khi  chuyển dạ và NVP liều đơn cho con ngay sau sinh. 

III. DỰ PHÒNG SAU PHƠI NHIỄM HIV 

1. Dự phòng sau phơi nhiễm HIV do nghề nghiệp

Phơi nhiễm với HIV do tai nạn nghề nghiệp là tiếp xúc trực tiếp  với máu và các dịch cơ thể có nhiễm HIV dẫn đến nguy cơ lây  nhiễm HIV. 

1.1. Các dạng phơi nhiễm  

Do kim đâm khi làm các thủ thuật tiêm truyền, lấy máu làm xét  nghiệm, chọc dò… 

Vết thương do dao mổ và các dụng cụ sắc nhọn khác có dính máu  hoặc dịch cơ thể của người bệnh. 

Tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc dịch của người bệnh  vỡ đâm vào. 

Máu, chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổn  thương (chàm, bỏng, viêm loét từ trước) hoặc niêm mạc (mắt, mũi, họng). Khác: Phơi nhiễm với máu có HIV do bị người khác dùng kim tiêm  

chứa máu đâm vào hoặc trong khi làm nhiệm vụ đuổi bắt tội phạm…

1.2. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV

Tiến hành điều trị càng sớm càng tốt từ 2 – 6 giờ và trước 72 giờ  sau khi bị phơi nhiễm cho tất cả các trường hợp có nguy cơ cao,  đồng thời đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm và  người bị phơi nhiễm. 

Bảng 14. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV 

Các thuốc  sử dụng Chỉ định
Phác đồ điều trị  2 thuốc (Phác  đồ cơ bản)AZT + 3TC  hoặc d4T + 3TCTất cả các trường hợp  phơi nhiễm có nguy cơ.
Phác đồ  điều trị 3 thuốcAZT + 3TC  hoặc d4T + 3TC  cộng với: LPV/rTrong trường hợp nguồn  gây phơi nhiễm đã và  đang điều trị ARV và nghi  có kháng thuốc.
Thời gian điều trị 4 tuần.

2. Dự phòng phơi nhiễm HIV ngoài môi trường nghề nghiệp

Phơi nhiễm không do nghề nghiệp là những trường hợp phơi nhiễm  với máu, dịch cơ thể có khả năng làm lây nhiễm HIV không liên  quan đến nghề nghiệp. 

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc ARV: Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm ngoài môi trường nghề nghiệp  bằng ARV tương tự như dự phòng sau phơi nhiễm nghề nghiệp;  bắt đầu ARV càng sớm càng tốt, trong vòng 72 giờ sau khi bị phơi  nhiễm và tiếp tục trong 28 ngày. Chỉ định phác đồ 2 thuốc. Khi nguồn lây hiện tại hoặc trong tiền sử đã sử dụng ARV, hoặc  được biết là thất bại với phác đồ bậc 1, khuyến cáo sử dụng phác  đồ 3 thuốc. 

Tư vấn về tác dụng không mong muốn và tuân thủ điều trị trước  khi dùng thuốc. 

B. ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM NHIỄM HIV/AIDS

I. ĐIỀU TRỊ KHÁNG RETROVIRUS (điều trị ARV)

1. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV 

Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị bằng ARV ở trẻ em dựa vào tình trạng  chẩn đoán nhiễm HIV, lứa tuổi, giai đoạn lâm sàng và giai đoạn  miễn dịch của trẻ. 

1.1. Trẻ có chẩn đoán xác định nhiễm HIV 

Trẻ dưới 24 tháng tuổi: Điều trị ARV ngay, không phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào TCD4. 

Trẻ từ 24 tháng tuổi đến dưới 60 tháng tuổi: Điều trị ARV khi:  Trẻ có % tế bào TCD4 ≤ 25% hoặc số lượng tế bào TCD4 ≤ 750 tế  bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng; hoặc trẻ ở giai đoạn  lâm sàng 3, 4, không phụ thuộc số lượng tế bào TCD4. 

Trẻ từ 60 tháng tuổi trở lên: Chỉ định điều trị ARV tương tự như  người lớn nhiễm HIV.  

1.2. Trẻ dưới 18 tháng tuổi có kết quả chẩn đoán PCR lần 1  dương tính 

Tiến hành điều trị ARV cho trẻ đồng thời tiếp tục thực hiện xét  nghiệm PCR lần 2. Dừng điều trị ARV nếu trẻ có kết quả chẩn đoán  khẳng định nhiễm HIV âm tính. 

1.3. Trẻ dưới 18 tháng tuổi chưa có chẩn đoán xác định nhiễm  HIV 

Thực hiện điều trị ARV khi trẻ được chẩn đoán lâm sàng bệnh HIV/ AIDS nặng. 

2. Các phác đồ điều trị bậc 1 

a. Đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi đã từng tiếp xúc với NVP hoặc  EFV do mẹ điều trị ARV hoặc sử dụng ARV để dự phòng lây truyền  HIV từ mẹ sang con: 

 AZT + 3TC + LPV/r 

b. Đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi không có hoặc không rõ tiền sử  tiếp xúc với NVP hoặc EFV do mẹ điều trị ARV hoặc sử dụng ARV  để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: 

 AZT + 3TC + NVP 

c. Đối với trẻ từ 24 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi: 

 AZT/d4T + 3TC + NVP 

d. Đối với trẻ trên 36 tháng tuổi: 

 AZT + 3TC + NVP/EFV 

Trong trường hợp không sử dụng được AZT thay bằng ABC. Nếu  có chống chỉ định với ABC dùng d4T. 

e. Trường hợp trẻ > 12 tuổi và bị viêm gan B: 

 TDF + 3TC + EFV/NVP 

3. Tác dụng không mong muốn của các thuốc ARV và cách xử  trí 

3.1. Tác dụng không mong muốn của thuốc ARV

Tác dụng không mong muốn của thuốc ARV ở trẻ em chia làm 4  mức độ nhẹ, vừa, nặng, và nặng đe dọa tính mạng, tương tự như ở  người lớn.  

Mức độ 1 (nhẹ): Điều trị triệu chứng, không đổi phác đồ. Mức độ 2 (vừa): Rối loạn phân bố mỡ hoặc bệnh lý thần kinh ngoại  biên (d4T): Thay thuốc. Tác dụng không mong muốn khác: tiếp  tục phác đồ ARV và điều trị triệu chứng, nếu không cải thiện thay  thuốc gây độc. 

Mức độ 3 (nặng): Không dừng ARV, thay thuốc gây tác dụng  không mong muốn. 

Mức độ 4 (nặng đe dọa tính mạng): Ngừng ngay thuốc ARV, xử lý  các triệu chứng. Khi triệu chứng giảm, thay thuốc ARV gây độc  tính. 

Lưu ý khi xử trí các tác dụng không mong muốn của thuốc ARV: a. Xác định mức độ nặng của độc tính trên cơ sở lâm sàng và xét  nghiệm cần thiết. 

b. Xem xét các thuốc trẻ đang dùng, xác định độc tính do ARV hay  thuốc khác. 

c. Loại trừ các bệnh lý có thể là nguyên nhân gây tình trạng trẻ  xấu đi. d. Xử trí theo mức độ tác dụng không mong muốn. e. Nhấn mạnh tầm quan trọng của tuân thủ điều trị.

3.2. Một số tác dụng không mong muốn hay gặp của các thuốc  ARV và cách xử trí

Cần xác định mức độ nặng tác dụng không mong muốn của thuốc  ARV dựa vào biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm để quyết định xử  trí phù hợp.

4. Thất bại điều trị phác đồ bậc 1 và đổi phác đồ bậc 2 

4.1. Đánh giá thất bại điều trị 

4.1.1. Nguyên tắc 

Chỉ xem xét thất bại điều trị khi trẻ đã điều trị ARV đúng phác đồ 3 thuốc trong ít nhất 6 tháng và đảm bảo tuân thủ tốt. Cần loại trừ hội chứng viêm phục hồi miễn dịch, hoặc tác dụng không mong muốn của thuốc, hoặc các nguyên nhân gây hấp thu thuốc kém. 

Bảng 15. Cách xử trí một số tác dụng không mong muốn hay gặp và tác dụng không mong muốn nặng của thuốc ARV ở trẻ em

Biểu hiện lâm sàng Xét nghiệm Xử trí
Phát ban /Hội chứng Stevens-Johnson (Nhóm NNRTI, đặc biệt là NVP, ít gặp hơn là EFV)
Thường xảy ra trong vòng 6 – 8 tuần  đầu điều trị.  – Phát ban mức độ 1, 2.  – Phát ban mức độ 3. – Phát ban mức độ 4 đe dọa tính mạng  (Hội chứng Stevens-Johnson hoặc hoại  tử thượng bì nhiễm độc).Tăng men gan các mức độ  khác nhau (xem Phụ lục 7  của Hướng dẫn chẩn đoán  và điều trị HIV/AIDS của  Bộ Y tế).– Phát ban mức độ 1 hoặc 2, có thể tiếp tục điều trị ARV, điều trị triệu  chứng, nhưng phải theo dõi sát. – Phát ban mức độ 3: Thay thuốc gây độc, điều trị triệu chứng. – Phát ban nặng đe dọa tính mạng phải ngừng tất cả thuốc ARV và điều  trị triệu chứng. Khi các triệu chứng ổn định, bắt đầu lại ARV nhưng thay NVP bằng PI  hoặc thay bằng phác đồ 3 NRTI.  KHÔNG nên dùng lại NVP cho trẻ trong tương lai.
Thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính (AZT)
Đánh giá tình trạng:  – Da, niêm mạc  – Nhịp tim  – Khả năng hoạt động (mệt mỏi nhiều).Hgb và bạch cầu trung tính  giảm (xem Phụ lục 7 của  Hướng dẫn chẩn đoán và  điều trị HIV/AIDS của Bộ  Y tế).Truyền máu khi có chỉ định. Ngừng AZT khi Hgb < 70 g/lít và thay thế bằng d4T hoặc ABC.
Ngộ độc hệ thống thần kinh trung ương nặng và kéo dài: Do EFV
Rối loạn giấc ngủ, trầm cảm, thay đổi  hành vi.Kéo dài 2 – 4 tuần Thay sang NVP.
Viêm gan cấp do nhóm NNRTI, đặc biệt là NVP, hiếm hơn là EFV; các NRTI hoặc nhóm PI
Thường xảy ra trong vòng  6 – 8 tuần.  – Vàng da  – Gan to  – Có triệu chứng tiêu hóa  – Mệt mỏi.Tăng men gan và bilirubin  ở các mức độ.– Tùy theo mức độ cụ thể: – Theo dõi và điều trị triệu chứng nếu mức độ 1 hoặc 2. – Thay thuốc gây độc nếu ở mức độ 3. 
Có thể có các biểu hiện quá mẫn (phát  ban, sốt, các triệu chứng hệ thống).– Nếu mức độ 4 đe dọa tính mạng: Ngừng tất cả ARV và theo dõi; khi  các triệu chứng ổn định: – Bắt đầu lại ART nhưng thay thuốc gây độc, ví dụ thay NVP bằng EFV,  hoặc – Có thể bắt đầu lại phác đồ ARV hiện dùng nhưng theo dõi sát; nếu các  triệu chứng xuất hiện lại, thay thuốc gây độc.
Viêm tuỵ cấp (Nhóm NRTI, đặc biệt là d4T, ddI; hiếm hơn là 3TC)
Đánh giá tình trạng: – Buồn nôn và nôn – Đau bụng – Có thể kết hợp với nhiễm toan lactic.Men amylase và lipase của  tụy tăng theo các mức độ.Nếu mức độ 4 đe dọa tính mạng: – Ngừng tất cả các thuốc ARV cho tới khi các triệu chứng ổn định. – Theo dõi amylase, lipase huyết thanh, nếu có thể. – Khi các triệu chứng ổn định, tiếp tục điều trị nhưng thay bằng thuốc  NRTI khác không có độc tính với tụy.
Phản ứng quá mẫn (ABC hoặc NVP)
ABC: Các triệu chứng tiến triển xấu đi  ngay sau khi dùng ABC, thường xảy ra  trong vòng 6 – 8 tuần. Trẻ có sốt, buồn  nôn, nôn, ỉa chảy, đau bụng, viêm họng,  ho, khó thở; phát ban dị ứng (đỏ, ngứa); NVP: Triệu chứng toàn thân gồm sốt,  đau cơ, đau khớp, viêm gan, phát ban  hoặc không nhưng có ngứa.Tăng các men gan, số  lượng tế bào ái toan các  mức độ khác nhau. Mức độ 3: Thay thuốc gây độc và điều trị triệu chứng. Mức độ 4 đe dọa tính mạng: – Ngừng ngay tất cả các thuốc ARV và điều trị triệu chứng. – Khi các triệu chứng ổn định, tiếp tục điều trị nhưng thay thuốc gây  tác dụng không mong muốn (ABC hoặc NVP) bằng thuốc ARV khác.  KHÔNG nên dùng lại NVP hoặc ABC cho người bệnh trong tương lai.
Loạn dưỡng mỡ (d4T; các PI)
Mất mỡ và/hoặc tích tụ mỡ ở các vùng  riêng biệt trên thân mình: – Tăng mỡ quanh bụng, ụ mỡ sau lưng,  phì đại tuyến vú. – Mất mỡ ở các chi, mông, mặt, xảy ra  ở các mức độ khác nhau.Thay đổi ở các mức độ khác nhau của: – Triglycerid máu; – Cholesterol máu; – Mức HDL thấp; – Đường máu.Theo dõi lâm sàng chặt chẽ đặc biệt sau 6 – 12 tháng điều trị. Nếu có biểu hiện loạn dưỡng mỡ: Thay d4T bằng ABC hoặc AZT. Thay  thế PI bằng NVP hoặc EFV.
Bệnh thần kinh ngoại vi nặng (d4T, ddI; hiếm hơn 3TC)
– Đau, ngứa, tê cóng bàn tay hoặc bàn  chân, không đi được.  – Mất cảm giác ở phần xa của chi.  – Yếu cơ nhẹ và mất phản xạ gân xương  có thể xảy ra.Không Theo dõi lâm sàng chặt chẽ đặc biệt sau 6 – 12 tháng điều trị. Nếu có biểu hiện rối loạn thần kinh ngoại vi: Thay d4T bằng AZT hoặc  ABC.
Nhiễm toan lactic (Nhóm NRTI, đặc biệt là d4T)
– Mệt mỏi – Có biểu hiện: Buồn nôn, nôn, ỉa chảy,  gan to, chán ăn, chậm lên cân hoặc sút  cân đột ngột không giải thích được. – Có thể có biểu hiện viêm gan hoặc viêm  tụy. – Các triệu chứng thần kinh (bao gồm yếu cơ).– Tăng khoảng trống anion  – Nhiễm toan lactic  – Tăng các men gan  – CPK, LDHMức độ nặng: Thay thuốc gây độc điều trị triệu chứng. Mức độ nặng đe dọa tính mạng: – Ngừng tất cả các thuốc ARV và điều trị triệu chứng. – Khi các triệu chứng ổn định, bắt đầu lại điều trị ARV nhưng thay d4T  bằng ABC hoặc AZT).

4.1.2. Tiêu chuẩn thất bại điều trị 

Bảng 16. Tiêu chuẩn thất bại điều trị 

Lâm sàngTrẻ ngừng tăng trưởng về chiều cao và cân nặng mặc  dù trước đây đã có đáp ứng với điều trị.  Mất các mốc phát triển về thần kinh hoặc xuất hiện  bệnh lý não.  Xuất hiện các nhiễm trùng cơ hội hoặc bệnh lý ác  tính, hoặc tái phát các bệnh nhiễm trùng, nấm và  không đáp ứng với điều trị.
Miễn dịchCD4 giảm xuống dưới mức suy giảm miễn dịch  nặng theo lứa tuổi sau khi có đáp ứng phục hồi ban  đầu. Hoặc:  CD4 bắt đầu giảm nhanh xuống dưới mức suy giảm  miễn dịch nặng theo lứa tuổi, được khẳng định bằng  ít nhất hai lần xét nghiệm CD4 liên tiếp. Hoặc:  CD4 giảm xuống bằng hoặc dưới mức CD4 trước  khi điều trị. Hoặc:  CD4 giảm trên 50% so với mức CD4 đạt được cao  nhất kể từ khi điều trị bằng ARV.

Lưu ý: Một số bệnh lý giai đoạn 3 như lao hạch, lao phổi, viêm  phổi do vi khuẩn có thể không phải là chỉ điểm thất bại điều trị và  không đòi hỏi phải thay đổi phác đồ. 

4.2 Lựa chọn phác đồ bậc 2 

Bảng 17. Cách thay phác đồ ARV bậc 1 sang phác đồ bậc 2 

Cách thay phác đồ
Phác đồ bậc 1 đang điều trị Phác đồ bậc 2 thay thế
AZT/d4T + 3TC + NVP/EFV ABC + 3TC/ddI + LPV/r
ABC + 3TC + NVP/EFV AZT + 3TC/ddI + LPV/r
AZT/d4T + 3TC + ABC ddI + EFV/NVP + LPV/r

Cách dùng các thuốc phác đồ bậc 2: 

Didanosin (ddI): Uống 1 lần/ngày hoặc 2 lần/ngày. Uống thuốc  lúc đói, trước khi ăn ít nhất 1 giờ, hoặc sau khi ăn sớm nhất 2 giờ. Lopinavir/ritonavir (LPV/r): Uống 2 lần/ngày, cách nhau 12 giờ.  

LPV/r viên nang nên uống khi no; LPV/r viên nén có thể uống lúc đói hoặc lúc no. 

 Atazanavir/ritonavir (ATV/r): Uống 1 lần/ngày. 

5. Điều trị ARV ở trẻ mắc lao 

5.1. Trẻ được phát hiện lao trước khi điều trị ARV

Trẻ mắc lao cần phải được điều trị lao 2 – 8 tuần trước khi điều trị ARV. Điều trị ARV ở trẻ đang điều trị lao có rifampicin: 

Trẻ ≤ 3 tuổi và cân nặng < 10 kg: AZT hoặc d4T + 3TC + ABC  hoặc xem xét dùng AZT+3TC+NVP (nếu không sẵn có ABC); Trẻ > 3 tuổi và cân nặng > 10 kg: AZT hoặc d4T + 3TC + EFV. Lưu ý: Có thể sử dụng lại phác đồ có NVP khi điều trị lao bằng  phác đồ có rifampicin kết thúc. 

5.2. Trẻ được phát hiện lao trong khi điều trị ARV

Cần xác định lao có phải là hội chứng phục hồi miễn dịch không.  Nếu có cần đánh giá và điều trị như hội chứng phục hồi miễn dịch. Tiếp tục điều trị ARV đồng thời với điều trị lao. 

Lựa chọn phác đồ: 

Nếu trẻ đang dùng phác đồ bậc 1 không có NVP, tiếp tục phác đồ  đã dùng. 

Nếu trẻ đang dùng phác đồ bậc 1 có NVP: 

Thay NVP bằng ABC nếu trẻ ≤ 3 tuổi hoặc cân nặng dưới 10 kg;  Thay NVP bằng EFV nếu trẻ > 3 tuổi và cân nặng trên 10 kg và  quay về phác đồ chuẩn d4T + 3TC + NVP khi kết thúc điều trị lao. Nếu không có ABC hoặc EFV tiếp tục dùng NVP. 

Nếu trẻ đang điều trị phác đồ có LPV/r: Tăng liều ritonavir bằng  liều lopinavir. 

5.3. Sử dụng các phác đồ sau: 

5.3.1. Đối với trẻ ≤ 36 tháng tuổi mắc lao: 

 AZT + 3TC + NVP hoặc AZT + 3TC + ABC

5.3.2. Đối với trẻ trên 36 tháng tuổi mắc lao:  

AZT + 3TC + EFV hoặc AZT + 3TC + ABC Chỉ định dự phòng lao bằng INH cho trẻ nhiễm HIV khi: Trẻ ≥ 12 tháng tuổi: Không có bằng chứng của lao tiến triển dựa  vào sàng lọc lâm sàng và không tiếp xúc với người bệnh lao. Trẻ < 12 tháng tuổi: Trẻ có tiếp xúc với người bị bệnh lao và được loại trừ lao tiến triển. Nếu trẻ < 12 tháng tuổi không có lao tiến  triển và không tiếp xúc với người bệnh lao thì không nên điều trị  dự phòng lao. 

Liều lượng: 10 mg/kg/ngày (tối đa 300 mg/ngày). 

Thời gian dự phòng: 6 tháng. 

Bổ sung vitamin B6: 25 mg/ngày khi điều trị dự phòng bằng INH.

6. Điều trị ARV ở trẻ đồng nhiễm viêm gan 

Nếu có điều kiện nên làm xét nghiệm xác định đồng nhiễm viêm  gan virus B và C. 

Tiêu chuẩn điều trị ARV cho trẻ có đồng nhiễm viêm gan B và C  cũng như mọi trẻ khác. 

Trước khi điều trị ARV, kiểm tra men gan theo quy định: Nếu men gan tăng ≥ 2,5 lần bình thường: 

 Đối với trẻ trên 3 tuổi: Tốt nhất, sử dụng phác đồ AZT (hoặc d4T)  + 3TC + EFV 

 Đối với trẻ dưới 3 tuổi hoặc không có EFV: Sử dụng phác đồ AZT  (hoặc d4T) + 3TC + NVP; theo dõi sát xét nghiệm ALT. Không điều trị bằng phác đồ có NVP khi ALT > 5 lần trị số bình  thường. 

Cần theo dõi chặt chẽ men gan trong giai đoạn viêm gan đang tiến triển: Nếu ALT ≤ 5 lần chỉ số bình thường, vẫn tiếp tục điều trị. Nếu ALT tăng từ 5 – 10 lần chỉ số bình thường, tiếp tục phác đồ  điều trị nhưng phải theo dõi chặt chẽ, làm xét nghiệm men gan  1 – 2 tuần/lần; 

Nếu ALT tăng > 10 lần, hoặc tăng gấp 5 lần kèm theo vàng da cần  thay NVP bằng EFV hoặc bằng PI. 

Phác đồ 3TC có tác dụng điều trị viêm gan B. Trong trường hợp  cần thay đổi phác đồ điều trị nên tiếp tục 3TC trong phác đồ mới  để tránh bùng phát viêm gan B. 

Các thuốc điều trị ARV không có tác dụng điều trị viêm gan C.

Lưu ý: 

Đợt bùng phát viêm gan B dễ xảy ra khi có đồng nhiễm HIV/VGB  trong vài tháng đầu tiên điều trị ARV, có thể là biểu hiện của hội  chứng viêm phục hồi miễn dịch, hoặc do ngừng ARV có tác dụng  điều trị viêm gan B (3TC, TDF). 

Biểu hiện: Men gan tăng cao và nhanh, kèm theo các triệu chứng  của viêm gan cấp (mệt mỏi, đau bụng, vàng da). Đôi khi khó phân  biệt với ngộ độc gan do ARV. 

Cần theo dõi lâm sàng và xét nghiệm men gan chặt chẽ khi phải  ngừng các thuốc ARV trong đó có 3TC, TDF.

Nguồn: Dược thư Quốc Gia