Các kháng sinh cephalosporin thuộc nhóm kháng sinh phổ rộng  nên được sử dụng rộng rãi cả với mục đích điều trị và dự phòng. Đây là những kháng sinh có nhiều ưu điểm như có tác dụng diệt khuẩn mạnh, ít tác dụng phụ nghiêm trọng, dùng được cho mọi  đối tượng, kể cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh; do đó việc định  hướng sử dụng nhóm thuốc này là cần thiết nhằm tránh kháng thuốc và nhờ đó sẽ giữ được “một vũ khí quan trọng” cho điều trị. Để định hướng sử dụng cephalosporin tốt, cần nắm vững những  đặc tính dược lý học và có cách sử dụng đúng.  

Phân loại 

Mặc dù các cephalosporin đã được phân loại dựa vào cấu trúc hóa  học, đặc tính dược lý lâm sàng, khả năng kháng beta-lactamase  hoặc phổ kháng khuẩn, nhưng phân loại theo thế hệ được coi là rất  hữu ích và được sử dụng rộng rãi. Phân loại cephalosporin theo thế hệ dựa vào đặc tính kháng khuẩn của thuốc.  

Sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh Cephalosporin!
Sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh Cephalosporin!

Bảng 1. Phân loại các cephalosporin theo thế hệ 

Thế hệ Tên kháng  sinh Phổ tác dụng
Thế hệ 1Cefazolin  Cefalotin  Cephalexinu Cefadroxilu  CephradinuCầu khuẩn Gram dương: Sinh hay  không sinh penicilinase: S. aureus,  S. epidermidis (trừ các chủng kháng  meticilin), S. pyogenes (nhóm A beta tan  huyết), Streptococcus agalactiae (nhóm  B), Streptococcus viridans. Kháng thuốc:  S. pneumoniae kháng penicilin. Vi khuẩn Gram âm hiếu khí: E.  coli, Proteus mirabilis Klebsiella pneumoniae, nhưng độ nhạy cảm thay  đổi. Với vi khuẩn kỵ khí: Các cầu khuẩn  Gram dương thường nhạy cảm nhưng B.  fragilis đề kháng với cephalosporin thế  hệ 1.
Thế hệ 2Cefuroxim Cefuroxim acetilu 
Cefacloru Cefoxitin Cefotetan 
Cefprozilu Ceforanid Loracarbefu
Cầu khuẩn Gram dương hiếu khí: Các  cầu khuẩn nhạy cảm giống cephalosporin  thế hệ 1. Vi khuẩn Gram âm hiếu khí: H.  influenzae (bao gồm cả các chủng kháng  ampicilin), Moraxella catarrhalis,  Neisseria meningitidis và một số  Enterobacteriacae. Cephalosporin thế hệ  2 thường có hoạt tính mạnh hơn in vitro đối với vi khuẩn Gram âm so với thế hệ  1, tuy phổ tác dụng đặc hiệu có thay đổi  giữa các thuốc trong nhóm. Cefaclor ít  tác dụng đối với vi khuẩn Gram âm hơn  so với các cephalosporin thế hệ 2 khác. Vi khuẩn kỵ khí: Đa số vi khuẩn ở miệng  và đại tràng nhạy cảm (ví dụ Bacteroides  sp. bao gồm cả B. fragilis)
Thế hệ 3Cefotaxim Ceftriaxon Cefdinir 
Ceftizoxim Cefpodoxim  proxetilu Cefoperazo
Ceftazidim  Cefiximu Cefpodoximu
Phổ tác dụng mở rộng đối với các vi  khuẩn Gram âm so với các thế hệ 1, 2.  Cầu khuẩn Gram dương hiếu khí:  Thường ít tác dụng in vitro hơn so với  cephalosporin thế hệ 1 và 2. Cefotaxim  và ceftriaxon có hoạt tính mạnh hơn  ceftizoxim đối với Str. pneumoniae. Cầu khuẩn Gram âm hiếu khí: Có phổ tác  dụng mở rộng đối với các vi khuẩn Gram  âm so với thế hệ 1 và 2. Tác dụng tốt với  H. influenzae, Moraxella catarrhalis, N.  meningitidis Enterobacteriaceae (như  E. coli, Klebsiella sp., Proteus mirabilis, Providencia) trong nhiễm khuẩn tại  bệnh viện và cộng đồng. Một số chủng  Enterobacter có khuynh hướng kháng  với cephalosporin nên nhóm này thường  không được chọn để điều trị nhiễm  Enterobacter. Một nhóm phụ thế hệ 3 gồm ceftazidim,  cefoperazon có tác dụng chống P.  aeruginosa, nhưng ít có tác dụng chống  cầu khuẩn Gram dương hơn các thuốc  thế hệ 3 khác.  Các cephalosporin thế hệ 3 đường uống  không có tác dụng trên P. aeruginosa Enterobacter. Các cephalosporin thế hệ 3 nói chung  không có tác dụng trên Enterococcus và  Listeria monocytogenes. Vi khuẩn kỵ khí: Cefotaxim, ceftriaxon  và ceftizoxim có tác dụng đối với vi  khuẩn kỵ khí như B. fragilis.
Thế hệ 4 CefepimPhổ kháng khuẩn rộng hơn so với thuốc  thế hệ 3 và có độ bền vững cao đối với  sự thủy phân bởi các beta-lactamase qua  trung gian nhiễm sắc thể và plasmid.  Ví dụ: Cầu khuẩn Gram dương sinh  hay không sinh penicilinase: S. aureus,  S. epidermidis (trừ các chủng kháng  meticilin), S. pyogenes (nhóm A beta tan  huyết), Streptococcus agalactiae (nhóm  B), Streptococcus viridans
Kháng thuốc: S. pneumoniae kháng  penicilin, Enterococcus, Listeria  monocytogenes. Vi khuẩn Gram âm hiếu khí: P.  aeruginosa, E. coli, Proteus mirabilis và  Klebsiella pneumoniae, nhưng độ nhạy  cảm thay đổi. Cầu khuẩn Gram dương kỵ  khí thường nhạy cảm nhưng B. fragilis  đề kháng với cefepim.

Ghi chú: Ký hiệu (u) có ở dạng bào chế dùng đường uống. 

Các đặc tính dược lý 

Cơ chế tác dụng 

Các cephalosporin cũng có cơ chế tác dụng ức chế sự tổng hợp peptidoglycan của thành tế bào vi khuẩn tương tự các penicilin. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn nên áp dụng được cho người bệnh  suy giảm miễn dịch.

Cơ chế kháng cephalosporin của vi khuẩn 

Vi khuẩn kháng cephalosporin có thể tự nhiên hoặc mắc phải do  một hoặc nhiều yếu tố phối hợp. Khả năng kháng cephalosporin của  vi khuẩn có thể do kháng sinh không tới được các vị trí tác dụng, do biến đổi các protein gắn penicilin (PBP)-đích của cephalosporin,  hoặc do các enzym beta-lactamase của vi khuẩn phá hủy vòng  beta-lactam làm mất tác dụng của cephalosporin. Cơ chế cuối cùng  này là cơ chế kháng cephalosporin phổ biến nhất. 

Các cephalosporin nhạy cảm với beta-lactamase ở mức độ khác  nhau. Ví dụ, trong các cephalosporin thế hệ 1, cefazolin nhạy cảm  với sự thủy phân bởi beta-lactamase do S. aureus tiết ra nhiều hơn  so với cefalothin. Cefoxitin, cefuroxim và cephalosporin thế hệ 3  kháng lại sự thủy phân bởi beta-lactamase của vi khuẩn Gram âm  hơn cephalosporin thế hệ 1. Cephalosporin thế hệ 3 nhạy cảm với  sự thủy phân bởi beta-lactamase (typ I) cảm ứng được thể nhiễm  sắc mã hóa. Sự cảm ứng các beta-lactamase typ I này xảy ra khi  sử dụng các cephalosporin thế hệ 3 hoặc 2 và/hoặc imipenem  để điều trị trực khuẩn Gram âm ưa khí (đặc biệt là Enterobacter spp., Citrobacter freundii, Morganella, Serratia, Providencia Pseudomonas aeruginosa) có thể dẫn đến việc kháng tất cả các  cephalosporin thế hệ 3. Tuy nhiên, cephalosporin thế hệ 4 như  cefepim là những chất cảm ứng yếu của beta-lactamase typ I  và ít bị thủy phân bởi beta lactamase typ I hơn so với thuốc thế hệ 3.  

Một điểm quan trọng cần nhớ là không một cephalosporin nào  có tác dụng đáng tin cậy đối với các vi khuẩn sau: Streptococcus  pneumoniae kháng penicilin, Staphylococcus aureus kháng  methicilin, Staphylococcus epidermidis kháng methicilin và 

Staphylococcus coagulase – âm tính khác, Enterococcus, Listeria  monocytogenes, Legionella pneumophila, Legionella micdadei,  C. difficile, Pseudomonas maltophilia, P. putida, Campylobacter  

jejuni, các loài Acinetobacter, và tất nhiên không có tác dụng  chống nấm như Candida albicans.  

Dược động học 

Các cephalosporin có thể dùng ở dạng uống hoặc tiêm, thường  dạng tiêm phổ biến hơn (Bảng 1). Tuy nhiên kháng sinh dạng uống  hiện có đều không thể thay thế cho dạng tiêm trong điều trị các  trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Tỷ lệ liên kết của cephalosporin với protein huyết tương thường  ở mức trung bình (50 – 80%) và yếu (< 50%). Những chất có tỷ  lệ liên kết trên 90% bao gồm cefotetan, cefpiramid, cefonicid,  ceftriaxon. Đây là những chất có nửa đời sinh học (t1/2) dài hơn  những chất có tỷ lệ liên kết với protein huyết tương dưới 90%; ví  dụ t1/2 của ceftriaxon tới 8 giờ trong khi t1/2 của các cephalosporin  khác thông thường chỉ từ 0,4 đến 2,6 giờ.

Các kháng sinh thế hệ 1 không qua hàng rào máu não, ngay cả khi  bị viêm, trong khi các kháng sinh thế hệ 3 (trừ cefoperazon) qua  được và đạt nồng độ điều trị khi viêm màng não. Cephalosporin  cũng qua được nhau thai; đạt nồng độ cao trong hoạt dịch và dịch  màng ngoài tim. Khả năng thấm của các cephalosporin thế hệ 3  vào trong thủy dịch mắt khá tốt nếu dùng đường toàn thân, nhưng  thuốc thấm kém vào dịch thủy tinh thể. Thuốc đạt nồng độ đủ để điều trị nhiễm khuẩn mắt do vi khuẩn Gram dương và Gram âm  khi dùng đường toàn thân. Hầu hết các cephalosporin không bị  chuyển hóa qua gan mà bài xuất nguyên dạng qua nước tiểu; vì vậy  cần phải hiệu chỉnh lại liều các thuốc này đối với người bệnh suy  thận. Probenecid làm chậm sự tiết qua ống thận của phần lớn các  cephalosporin. Cefoperazon và cefpiramid bị chuyển hóa qua gan  qua phản ứng liên hợp và bài xuất qua mật rồi đổ vào ruột, do đó  đây là 2 thuốc có nồng độ trong mật cao nhất. 

Đặc tính dược động học/dược lực học

(Pharmacokinetics/ Pharmacodynamics hay PK/PD) 

Chỉ số PK/PD biểu thị mối liên hệ giữa nồng độ thuốc trong máu  và tác dụng diệt khuẩn in vivo của kháng sinh. Đặc tính PK/PD của  beta-lactam là tác dụng diệt khuẩn phụ thuộc thời gian và có tác  dụng hậu kháng sinh (PAE) ngắn; do đó chế độ liều khuyến khích  là chia nhiều lần trong ngày hoặc truyền tĩnh mạch kéo dài (trừ các  thuốc có t1/2 dài). Thời gian truyền kháng sinh cần được cân nhắc  dựa trên độ ổn định của kháng sinh khi đã pha loãng trong dung  môi tương hợp. T>MIC là chỉ số có tương quan với hiệu quả điều  trị của nhiều kháng sinh beta-lactam. Các nghiên cứu trên mô hình  động vật cho thấy hiệu quả diệt khuẩn tốt khi nồng độ thuốc trong  máu cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) từ 1 – 4 lần; khoảng  thời gian T>MIC dao động tùy theo vi khuẩn: Với Streptococci và  Enterobacteriaceae, T>MIC (khi thử trên động vật) phải bảo đảm  60 – 70% nhưng với S. aureus chỉ cần 40 – 50% khoảng liều. 

Tác dụng không mong muốn 

Do cấu trúc tương tự giữa penicilin và cephalosporin nên người  bệnh đã bị dị ứng với penicilin có thể bị dị ứng chéo khi dùng  cephalosporin. Các nghiên cứu về miễn dịch cho thấy phản ứng  chéo vào khoảng 20% số bệnh nhân bị dị ứng với penicilin, nhưng  nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỷ lệ thấp hơn nhiều (khoảng 1%).  Không có test da nào có thể dự đoán một cách tin cậy người bệnh  sẽ có dị ứng với cephalosporin hay không.  

Phản ứng quá mẫn đối với các cephalosporin là phản ứng không  mong muốn thường gặp nhất và không có chứng cứ nào cho  thấy cephalosporin này gây mẫn cảm ít hoặc nhiều hơn so với  cephalosporin khác. Các phản ứng tức thời bao gồm phản vệ, co  thắt phế quản, mày đay. Phản ứng da hay gặp là ban dát sần (thường  xảy ra sau vài ngày điều trị). Dị ứng có thể kèm hoặc không kèm  sốt, tăng bạch cầu ái toan.  

Người bệnh có tiền sử dị ứng nhẹ hoặc đã có phản ứng từ lâu trước  đây với penicilin thì ít có nguy cơ phát ban hoặc phản ứng dị ứng  khác đối với cephalosporin. Tuy nhiên, người bệnh có phản ứng  gần đây nặng và tức thời với penicilin thì khi dùng cephalosporin  phải hết sức thận trọng hoặc tốt nhất nên tránh sử dụng.  

Phản ứng Coombs dương tính thường gặp ở người dùng liều cao  cephalosporin. Cephalosporin có thể gây ức chế tủy xương, đặc  trưng là giảm bạch cầu hạt nhưng hiếm gặp.  

Cephalosporin được coi là có tiềm năng độc với thận, mặc dù mức  độ độc ít hơn aminoglycosid hoặc polymyxin. Hoại tử ống thận đã xảy ra khi dùng cephaloridin với liều trên 4 g mỗi ngày (hiện tại  kháng sinh này đã bị rút khỏi thị trường). Những cephalosporin  khác ít độc hơn nhiều, hiếm khi thấy dấu hiệu độc với thận khi  dùng đơn độc và ở liều điều trị. Dùng liều cao cefalothin có thể gây hoại tử ống thận cấp trong một số trường hợp, liều thường dùng  (8 – 12 g/ngày) đã gây độc với thận ở người đã mắc bệnh thận từ trước. Có bằng chứng cho thấy, khi sử dụng đồng thời cefalothin và gentamicin hoặc tobramycin, xuất hiện tác dụng hiệp đồng gây độc  với thận, đặc biệt rõ ở người trên 60 tuổi. Tiêu chảy có thể xảy ra  khi dùng cephalosporin và thường gặp hơn khi dùng cefoperazon,  có thể do cefoperazon thải trừ chủ yếu qua mật. Tiêu chảy và viêm  ruột kết giả mạc do Clostridium difficile đã được ghi nhận khi  sử dụng kháng sinh, trong đó có các kháng sinh cephalosporin.  Cần phải chú ý phản ứng không dung nạp rượu (phản ứng giống  disulfiram) khi dùng cefamandol, cefotetan, moxalactam và cefoperazon.  

Chảy máu nặng do giảm prothrombin huyết, giảm tiểu cầu và/ hoặc rối loạn chức năng tiểu cầu đã được thông báo ở nhiều kháng  sinh cephalosporin, trong đó thường gặp hơn với các chất có chuỗi  N-methylthiotetrazol như cefamandol, cefoperazon trên các người  bệnh thiếu hụt vitamin K, suy thận, phẫu thuật cắt ống tiêu hóa. 

Chống chỉ định 

Người bệnh có tiền sử mẫn cảm với cephalosporin.  Riêng với ceftriaxon: Do nguy cơ ceftriaxon đẩy bilirubin ra khỏi  liên kết với protein huyết tương, gây tăng bilirubin huyết dẫn đến  hội chứng não – gan, do đó không được dùng cho trẻ sơ sinh, đặc  biệt là trẻ sơ sinh thiếu tháng và trẻ sơ sinh có vàng da do tan máu,  giảm albumin huyết. Không được trộn lẫn ceftriaxon với các dung  dịch tiêm tĩnh mạch có calci (bao gồm cả dịch truyền nuôi dưỡng  nhân tạo qua đường tĩnh mạch có chứa calci) do nguy cơ gặp tủa  muối calci gây tắc mạch, đặc biệt dễ xảy ra ở trẻ sơ sinh và sơ sinh  đẻ non tháng. 

Tương tác thuốc cần lưu ý 

Cần theo dõi chức năng thận khi phối hợp các cephalosporin với  kháng sinh nhóm aminoglycosid, nhóm polypeptid, nhóm lợi tiểu  quai. 

Lựa chọn cephalosporin 

Cephalosporin thế hệ 1: Như cefalotin và cefazolin, có tác dụng tốt  chống vi khuẩn Gram dương nhưng ít có tác dụng chống vi khuẩn  Gram âm. Phần lớn cầu khuẩn Gram dương nhạy cảm với thuốc  (trừ Enterococcus, S. aureus kháng methicilin và S. epidermidis).  Đa số vi khuẩn kỵ khí ở miệng thường nhạy cảm, nhưng nhóm vi  khuẩn Bacteroides fragilis thường kháng thuốc. Tác dụng chống  Moraxella catarrhalis, E. coli, K. pneumoniae P. mirabilis  thường là tốt. Tuy vậy, ở Việt Nam các chủng vi khuẩn thường có mức kháng kháng sinh cao nên cần cân nhắc trước khi lựa chọn.  

Các cephalosporin thế hệ 1 dùng đường uống được dùng để điều trị  nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng, nhiễm khuẩn da và  các mô mềm thể nhẹ ở cộng đồng. Do tỷ lệ nhiễm S. aureus kháng  meticilin tăng nên chỉ định này bị hạn chế. Thuốc thế hệ 1 dùng  đường tiêm là thuốc thường được chọn để dự phòng trong đa số  phẫu thuật sạch, tuy nhiên nếu tỷ lệ nhiễm tụ cầu kháng meticilin  cao sau phẫu thuật thì phải dùng thuốc khác như vancomycin.  

Cephalosporin thế hệ 2: Có tác dụng chống vi khuẩn Gram  âm tốt hơn đôi chút so với thế hệ 1 nhưng kém hơn nhiều so  với cephalosporin thế hệ 3. Một nhóm phụ thế hệ 2 (cefoxitin,  cefotetan, cefmetazol) có tác dụng chống vi khuẩn kỵ khí, trong  đó có Bacteroides fragilis và được dùng điều trị nhiễm khuẩn vùng  bụng, viêm ruột thừa, nhiễm khuẩn trong sản khoa do vi khuẩn kỵ  khí, đồng thời dùng trong dự phòng phẫu thuật với các phẫu thuật  đại – trực tràng hoặc cắt bỏ tử cung. Cephalosporin thế hệ 3: Nói chung ít có tác dụng chống cầu khuẩn  Gram dương hơn thế hệ 1, nhưng có tác dụng tốt hơn nhiều đối  với họ Enterobacteriaceae, kể cả các chủng tiết beta-lactamase.

Một nhóm phụ thế hệ 3 gồm ceftazidim, cefoperazon có tác dụng  chống Pseudomonas aeruginosa, nhưng ít có tác dụng chống cầu  khuẩn Gram dương hơn các thuốc thế hệ 3 khác. Tác dụng chống Pseudomonas aeruginosa phải được cân nhắc rất thận trọng vì có sự khác nhau lớn về tỷ lệ kháng thuốc, tùy thuộc vào việc sử dụng  kháng sinh ở các bệnh viện và trong cộng đồng. Cephalosporin  thế hệ 2 nhìn chung được chỉ định cho nhiễm khuẩn do các vi  khuẩn đa kháng (Proteus, Klebsiella, Enterobacter, Haemophylus).  Các cephalosporin thế hệ 3 đường uống được chỉ định trong nhiễm  khuẩn hô hấp và tiết niệu.  

Ceftriaxon được chỉ định để điều trị bệnh lậu, hạ cam và bệnh  Lyme nặng. Do thuốc vào được dịch não tủy nên cephalosporin thế  hệ thứ 3 được dùng để điều trị viêm màng não do S. pneumoniaemeningococcus, H. influenza. Ở người già bị viêm màng não có  khả năng gặp Listeria monocytogenes nên phối hợp cephalosporin  thế hệ 3 với ampicilin hoặc trimethoprim-sulfamethoxazol cho tới  khi L. monocytogenes bị loại. Ceftazidim được dùng để điều trị  viêm màng não do Pseudomonas. Liều lượng dùng để điều trị viêm  màng não phải ở cao hơn liều khuyến cáo vì nồng độ thuốc trong  dịch não tuỷ chỉ bằng 10 – 20% nồng độ thuốc trong huyết thanh.  Cefdinir và cefpodoxim là các thuốc uống tác dụng tốt với các  trường hợp nhiễm S. pneumoniae S. aureus. 

Cephalosporin thế hệ 4: Như cefepim có phổ kháng khuẩn rộng  hơn thế hệ 3 và có độ bền vững cao đối với sự thủy phân bởi các  beta-lactamase qua trung gian nhiễm sắc thể và plasmid nên có tác dụng trên một số vi khuẩn họ Enterobacteriaceae đã kháng  các cephalosporin khác; tác dụng mạnh hơn ceftazidim và ngang  cefotaxim đối với Streptococcus và các chủng S. aureus nhạy cảm  meticilin. Kháng sinh thế hệ 4 được dùng để điều trị nhiễm trực  khuẩn Gram âm ưa khí đã kháng với cephalosporin thế hệ 3. Thuốc  cũng thường được dùng theo kinh nghiệm để điều trị người bệnh  sốt giảm bạch cầu trung tính.  

Liều lượng và cách dùng 

Đây là nhóm thuốc có phạm vi điều trị rộng và mức liều dao động  lớn. Liều lượng tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh.  Độ dài điều trị phải bảo đảm cho đến khi hết triệu chứng hoặc có  bằng chứng hết vi khuẩn và tiếp tục ít nhất 48 – 72 giờ sau đó.  Nhiễm khuẩn do Streptococci beta tan huyết nên điều trị ít nhất  10 ngày. Trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng như nhiễm khuẩn  huyết, viêm nội tâm mạc hoặc viêm tủy xương, thời gian điều trị  phải kéo dài ít nhất 4 đến 6 tuần.  

Liều cho người bệnh suy thận cần được hiệu chỉnh theo chức  năng thận qua độ thanh thải creatinin (Clcr), trừ cefoperazon và  ceftriazon. 

Các cephalosporin ở những dạng bào chế phù hợp có thể sử dụng  bằng đường uống hoặc đường tiêm. Tiêm bắp có thể gây đau nên  phải tiêm sâu. Có những dạng bào chế tiêm bắp có pha thêm chất  gây tê (lidocain) vào dung môi để giảm đau nhưng cần lưu ý không  được đưa vào tĩnh mạch dạng này vì nguy cơ tụt huyết áp, loạn  nhịp tim và có thể dẫn đến tử vong. Tiêm tĩnh mạch phải đưa chậm  (3 – 7 phút). Truyền tĩnh mạch có thể truyền ngắt quãng hoặc truyền  liên tục kéo dài. Tuy nhiên khi đưa theo đường tĩnh mạch cần lưu ý  có thể gây viêm tắc tĩnh mạch, đặc biệt khi dùng liều cao kéo dài.  Cần sử dụng kim nhỏ, đưa vào các tĩnh mạch lớn và luôn thay đổi  vị trí tiêm. 

Cephalosporin ở dạng dung dịch chỉ ổn định được một thời  gian ngắn trừ trường hợp đông lạnh. Thuốc này cũng tương kỵ  với hầu hết các thuốc tiêm khác, đặc biệt là kháng sinh nhóm  aminoglycosid. Do đó không được trộn lẫn trong cùng bơm tiêm  với thuốc tiêm khác; đặc biệt không được tiêm ở cùng một chỗ, cùng thời điểm với aminoglycosid.

Kết luận 

Trong tất cả loại thuốc kháng sinh, cephalosporin được dùng  nhiều nhất, nhưng cũng bị lạm dụng nhiều nhất, đặc biệt là các  cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4. Hậu quả không tránh khỏi của  sử dụng tràn lan đã làm xuất hiện ngày càng nhiều các vi khuẩn  kháng thuốc, đòi hỏi ngày càng tăng nhu cầu tìm thuốc mới. Tránh  lạm dụng kháng sinh là cách tốt nhất để kiểm soát vi khuẩn kháng  thuốc. Do đó, cần định hướng sử dụng cephalosporin để hạn chế  vi khuẩn kháng thuốc. Các hướng dẫn và thông tin chính thức về  cách sử dụng hợp lý, an toàn và hiệu quả các thuốc kháng sinh  nhóm cephalosporin đã được biên soạn trong chuyên luận riêng.  Tuân thủ hướng dẫn điều trị, quy định hội chẩn khi kê đơn với các  cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4, tăng cường cập nhật kiến thức  trong sử dụng kháng sinh là những biện pháp góp phần giảm tỷ lệ  kháng thuốc và bảo vệ được những nhóm kháng sinh quý, hiệu quả  cao và độc tính thấp như các cephalosporin. 

Nguồn: Dược Thư Quốc Gia