Thông tin từ: 
Đây là dữ liệu cấp số đăng ký lưu hành gốc theo các quyết định cấp số đăng ký (SĐK) lưu hành (chưa bao gồm các dữ liệu đã được đính chính, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy ĐKLH trong quá trình lưu hành)
| Số giấy phép lưu hành (GPLH) |
|
|---|---|
| Ngày hết hạn SĐK |
|
| Tên thuốc |
|
| Thông tin hồ sơ gia hạn |
|
| Hoạt chất |
|
| Hàm lượng |
|
| Số quyết định |
|
| Năm cấp |
|
| Đợt cấp |
|
| Dạng bào chế |
|
| Quy cách đóng gói |
|
| Tiêu chuẩn |
|
| Tuổi thọ |
|
| Thông tin công ty đăng ký |
|
| Thông tin công ty sản xuất |
|
| Tài liệu công bố thay đổi bổ sung |
Sao chép số giấy phép lưu hành (GPLH) từ bảng thông tin trên, sau đó vào website Dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế:

Số đăng ký là mã do Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành cho từng loại thuốc. Số đăng ký là dãy số đứng sau chữ SĐK - các mã thường bắt đầu bằng:
Kiểm tra đầy đủ, đối chiếu các thông tin dựa trên kết quả được tìm kiếm.

Giá liên hệ
Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Pakistan |
| Quy cách | Chai 60ml |
| Thương hiệu | M/s Bio-Labs |
| Chuyên mục | Khoáng chất và vitamin |
| Số đăng ký |
VN-20957-18
|
| Nhà sản xuất | M/s Bio-Labs (Pvt) Ltd. |
| Hoạt chất | Mỗi 5ml chứa: Calci lactat gluconat 40mg; Vitamin A 1200IU; Vitamin D3 100IU; Vitamin B1 1mg; Vitamin B2 (dạng muối natri phosphat) 1mg; Vitamin B6 0,5mg; Nicotinamid 5mg; Dexpanthenol 2mg; Vitamin C 50mg; Vitamin E (dạng muối acetat) 1mg |
| Thành phần | Alpha tocopherol (Vitamin E), Calci lactat gluconat, Dexpanthenol, Vitamin A (Retinol), Vitamin B1 (Thiamine), Vitamin B2 (Riboflavin), Vitamin B6 (Pyridoxine hydrochloride), Vitamin C, Vitamin D3 (Cholecalciferol) |
Tittit Syrup được chỉ định điều trị: Bổ sung vitamin cho người có nhu cầu cao và có nguy cơ thiểu vitamin như: Người già, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, thiếu niên trong giai đoạn tăng trưởng, người ăn kiêng giảm béo. người nghiện rượu
Nội dung chính
Tittit Syrup được chỉ định điều trị: Bổ sung vitamin cho người có nhu cầu cao và có nguy cơ thiểu vitamin như: Người già, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, thiếu niên trong giai đoạn tăng trưởng, người ăn kiêng giảm béo. người nghiện rượu.
Suy nhược cơ thể, gầy yếu, chán ăn, mệt mỏi, làm việc căng thăng.
Tăng cường sức đề kháng của cơ thể trong điều trị bằng kháng sinh các bệnh nhiễm trùng cấp và mãn tính, sốt, ngộ độc, chấn thương, phẫu thuật.
Dự phòng và điều trị các trường hợp thiểu vitamin chuyên biệt A, D và các vitamin nhóm B (BI, B2, B6) trong các bệnh Beri-bert, Sprue, Pellagra…
Sản phẩm đã được Cục Dược – Bộ Y tế cấp phép dưới dạng thuốc kê đơn, chỉ bán theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.
Tittit Syrup bao gồm những thành phần chính như là: Calci lactat gluconat: 40mg, Vitamin A: 1200IU, Vitamin D3: 100IU, Vitamin B2 5-natri photphat: 1mg, Vitamin B6 hydroclorid: 0,5mg, Vitamin B1: 1mg, Dexpanthenol: 2mg, Vitamin C: 50mg, Vitamin E acetat: 1mg.
Tá dược: đường, propyl paraben natri, natri saccharin, natri benzoat, natri lauryl sulfat, sorbitol long, glycerin, vị socola, hương vị quả mâm xôi, gôm xanthan, đường methyl paraben natri, nước tinh khiết.
Tittit Syrup cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng.
Cách sử dụng:
Thuốc Dùng theo đường uống.
Nên uống sau bữa ăn.
Liều lượng:
Đối với trẻ dưới I tuổi: theo chỉ định của thây thuốc.
Đối với trẻ từ 1-2 tuổi: 1/4 muỗng cà phê (1,25m).
Đối với trẻ từ 2-6 tuổi: 1/2 muỗng cà phê (2.5ml).
Đối với người lớn và trẻ trên 6 tuổi: 1 muỗng cà phê (5ml).
Trong quá trình sử dụng Tittit Syrup, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:
Thuốc được khuyên dùng cho phụ nữ mang thai vì ở giai đoạn này nhu cầu vitamin của cơ thể tăng cao so với bình thường. Tuy nhiên, nên dùng đúng liều lượng khuyến cáo vì một số thành phần của thuốc, đặc biệt là vitamin A và vitamin D nếu dùng quá liều có thể gây hại cho thai nhi. Nếu sử dụng vitamin D với liều lớn hơn liều bổ sung hàng ngày đã được khuyến cáo (RDA) cho người mang thai bình thường (400 IU/ngày), thì có thể xảy ra nguy cơ, vì vậy không nên sử dụng vitamin D với liều lớn hơn RDA cho người mang thai. Đã xảy ra hẹp van động mạch chủ, bệnh thận và chậm phát triển về tâm thần và/hoặc chậm phát triển cơ thể khi có tăng calci máu kéo dài ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh mà mẹ chúng đã bị tăng calci máu trong thời kỳ mang thai. Tăng calci máu trong thời kỳ mang thai có thể gây giảm nồng độ hormon cận giáp ở trẻ sơ sinh dẫn đến loại calci máu, co giật, và động kinh. Nếu khẩu phần ăn không đủ vitamin D hoặc thiếu tiếp xúc với bức xạ tử ngoại, nên bổ sung vitamin D tới liều RDA trong thời kỳ mang thai. Dùng vitamin A với liều cao (10000 IU/ngày) có khả năng gây quái thai.
Thuốc cũng được khuyên dùng cho phụ nữ cho con bú. Tuy nhiên, vì vitamin D tiết vào sữa mẹ. không nên dùng vitamin D với liều lớn hơn liều RDA (400 IU/ngày) cho người cho con bú. Nên dùng vitamin D phụ thêm, nếu khẩu phần ăn không đủ vitamin D hoặc thiếu tiếp xúc với bức xạ tử ngoại.
Vitamin A cũng đi vào sữa mẹ. Khi cho con bú, các bà mẹ cần dùng hàng ngày 4000 – 4330 IU vitamin A.
Thuốc không ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Tác dụng của Vitamin D có thể giảm nếu bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc barbiturat hoặc thuốc chống co giật.
Sự hấp thu của Vitamin A từ đường dạ dày ruột có thể giảm nếu bệnh nhân dùng đồng thời với neomycin và cholestyramin hoặc parafin lỏng.
Trong quá trình sử dụng Tittit Syrup thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, ngứa, phát ban, đỏ da.
Khi dùng quá liều vitamin A-D, người bệnh biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, viêm da tróc vảy, đau xương, làm cho móng chân tay, tóc giòn dễ gãy, tăng áp lực sọ não, tăng calci máu.
Các biện pháp điều trị quá liều do uống nhằm bao gồm: Rửa dạ dày lập tức hoặc gây non để tránh hấp thu thuốc vào máu. Dùng dầu parafin để tăng đào thải thuốc qua phân. Tiến hành kiểm tra nhiều lần calci huyết. Nếu calei huyết vẫn còn cao, có thể dùng phosphat và corticoid cùng các biện pháp tăng bài niệu thích hợp.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Calci là khoáng chất có quan hệ mật thiết nhất với các vitamin. Calci là chất không thể thiếu cho sự hình thành và phát triển xương. Tình trạng thiếu hụt calci là rất phố biến, vì vậy việc bổ sung một lượng thích hợp rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn tăng trưởng (trẻ em, thanh thiểu niên), trong thời kì mang thai, cho con bú và ở người cao tuổi.
Vitamin A la vitamin tan trong dầu rất cần cho thi giác, cho sự tăng trưởng và cho sự phát triển và duy trì của biểu mô. Trong máu vitamin A dưới dạng retinol sẽ chuyển thành retinal. Trong bóng tối, retinal kết hợp với opsin (là một protein) tạo thành rhodopsin là sắc tố nhạy cảm với ánh sáng ở võng mạc mắt, giúp võng mạc nhận được các hình ảnh trong điều kiện thiếu ánh sáng. Sau đó, khi ra sáng rhodopsin lại bị phân huỷ cho opsin và trans-retinal, rồi trans-retin vào máu tạo thành trở lại cis-retinol.
Vitamin A mà chủ yếu là acid retinoie còn là chất cần thiết cho hoạt động của biểu mô, giúp bài tiết chất nhày và ức chế sự sùng hóa. Một trong những biểu thị đầu tiên của thiểu hụt vitamin A là thị lực suy giảm, cụ thể là suy giảm nhẹ thị lực gọi là quáng gà. Thiếu hụt liên tục sẽ sinh ra một loạt các thay đổi, có tính chất hủy hoại nhiều nhất diễn ra ở mặt. Các thay đổi về thị giác được gọi chung là bệnh khô mắt. Đầu tiên là sự khô đi của màng kết do biểu mô của tuyến tiết nước mắt và nước nhầy bị thay thể bằng biểu mô keratin hóa. Tiếp theo là sự tích tụ các mảnh vụn keratin thành các mảng trong mờ nhỏ (đồm Bitot và cuối cùng là sự ăn mòn bề mặt màng sừng thô ráp với sự thoái hóa và phá hủy của giác mạc (keratomalacia) và mù toàn phần. Các thay đổi khác còn có suy giảm miễn dịch, giảm chiều dày lớp vảy ở da (các bướu nhỏ màu trắng ở nang tóc), bệnh đa gà (Keratosis pilaris) và squamous metaplasia của biểu mô ở bề mặt của lỗi vào phía trên của hệ hô hấp và bàng quang. với lớp biều mô bị keratin hóa.
Cholecalciferol (vitamin D3) ở dạng họat động là 1,25 — dithydroxycholecalectferl, cùng với hormon tuyến cận giáp và caleitonin điều hòa nồng độ calei trong huyết thanh. Chức năng sinh học chính của vitamin D là duy trì nồng độ calci và phospho bình thường trong huyết tương bằng tăng hiệu quả hấp thu các chất khoáng từ khẩu phần ăn, ở ruột non, và tăng huy động calci và phospho từ xương vào máu.
Thiếu hụt vitamin D xảy ra khi tiếp xúc với ánh sáng không đủ hoặc khi khẩu phần ăn thiếu hụt vitamin D (đặc biệt ở trẻ em) hoặc ở những người có hội chứng kém hấp thu chất béo, gồm những người có bệnh về gan, mật hoặc bệnh đường tiêu hóa và hấp thu chất béo giảm: một vài tình trạng bệnh như suy thận có thể cũng ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của vitamin D thành dạng hoạt động và dẫn đến thiếu hụt vitamin D.
Loạn dưỡng xương do thận thường kết hợp với suy thận mạn tính và đặc trưng bởi giảm chuyến 25 – OHD3 thành 1a, 25-(OH) 2D3 (calcitriol), Giữ phosphat gây giảm nồng độ calci huyết tương, dẫn đến cường cận giáp thứ phát và về mặt bệnh học, có những tổn thương điển hình của cường cận giáp (viêm xương xơ hóa), của thiếu hụt vitamin D (nhuyễn xương), hoặc hỗn hợp cả hai trường hợp. Thiếu hụt vitamin D dẫn đến những triệu chứng đặc trưng bởi hạ calci máu, hạ phosphat máu, khoáng hóa không đủ hoặc khử khoáng của xưởng, đau xương. gẫy xương, ở người lớn gọi là nhuyễn xương; ở trẻ em, có thế dẫn đến biến dạng xương đặc biệt là biến dạng, xương dài, gọi là còi xương.
Còi xương phụ thuộc vitamin D là bệnh về gen thân lặn do bẩm sinh trong chuyển hóa vitamin D có liên quan đến giảm chuyển 25 – OHD3 thành calcitriol.
Thiamin thực tế không có tác dụng dược lý, thậm chí ở liều cao. Thiamin pyrophosphat, dạng thiamin có hoạt tính sinh lý, là coenzym chuyễn hóa carbohydrat làm nhiệm vụ khử carboxyl của các alpha – cetoacid nhy pyruvat và alpha – cetoglutarat và trong việc sử dụng pentose trong chu trình hexose monophosphat.
Lượng thiamin ăn vào hàng ngày cần 0,9 đến 15mg cho nam và 0,8 đến 1.1 mẹ cho nữ khoẻ mạnh. Nhu cầu thiamin có liên quan trực tiếp với lượng dùng carbohydrat và tốc độ chuyển hóa. Điều này có ý nghĩa thực tiễn trong nuôi dưỡng người bệnh bằng đường lĩnh mạch và ở người bệnh có nguồn năng lượng calo lấy chủ yếu từ dextrose (glucose).
Khi thiếu hụt thiamin, sự oxi hóa các alpha – cetoacid bị ảnh hưởng làm cho nồng độ pyruvaL trong máu tăng lên, giúp chẩn đóan tình trạng thiếu thiamin.
Thiếu hụt thiamin sẽ gây ra beriberi (bệnh tê phù). Thiếu hụt nhẹ biểu hiện trên hệ thần kinh (beriberi khô) như viêm đây thần kinh ngoại biên, rồi loạn cảm giác các chỉ, có thể tăng hoặc mất cảm giác. Trương lực cơ giảm dần và có thể gây ra chứng bại chỉ hoặc liệt một chỉ nào đó. Thiếu hụt trầm trọng gây rồi loạn nhân cách, trầm cảm, thiếu sáng kiến và trí nhớ kém như trong bệnh não Wernicke và nếu điều trị muộn gây loạn tâm thần Korsakoff.
Các triệu chứng tim mach do thiếu hụt thiamin bao gồm khó thở khi gắng sức. đánh trồng ngực, nhịp tim nhanh và các rối loạn khác trên tìm được biểu hiện bằng những tiếp đôi ĐTĐ (chủ yếu sóng R thấp, sóng T đáo ngược và kéo dài đoạn Q – T) và bằng suy tim có cung lượng tim cao. Sự suy tim như vậy được gọi là beriberi ướt, phủ tăng mạnh là do hậu quả của giảm protein huyết nếu dùng không đủ protein, hoặc của bệnh gan kết hợp với suy chức năng tâm thất.
Thiếu hụt thiamin có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân:
Tuy có sẵn trong thực phẩm nhưng do kém bên với nhiệt độ và ánh sáng nên quá trình bảo quản, chế biến không đúng sẽ làm giảm nhanh hàm lượng vitamin này.
Do nhu cầu tăng, nhưng cung cấp không đủ: Tuổi dậy thì, thời kỳ mang thai, cho con bú, ốm nặng, nghiện rượu, nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch.
Do giảm hấp thụ: ỉa chảy kéo đài, người cao tuổi.
Do mất nhiều vitamin này khi thârm phân phúc mạc, thẩm phân thận nhân tạo.
Nhu cầu về vitamin B2(riboflavin) liên quan đến năng lượng được dựa vào cơ thể, nhưng nó liên quan chặt chẽ hơn với yêu cầu chuyển hóa khi nghỉ ngơi. Bình thường cơ thể cần khỏang 0,6 mg/1000 kcal, như vậy thì cần 1,6 mg ribolfavin trong một ngày đối với nam và 1,2mg trong một ngày đối với nữ. Với người cao tuổi thì không ít hơn 1,2mg trong một ngày, thậm chí cả khi lượng calo đưa vào ít hơn 2000 kcal.
Riboflavin không có tác dụng rõ ràng khi uống hoặc tiêm. Riboflavin được biến đổi thành 2 coenzym là flavin mononucleotid (FMN) và flavin adenin dinucleotid (FAD), là các dạng coenzym hoạt động cần cho sự hô hấp của mô. Riboflavin cũng cần cho sự hoạt hóa pyridoxin, sự chuyển tryptophan thành niacin, và liên quan đến sự toàn vẹn của hồng cầu.
Riboflavin ở dạng flavin nucleotid cần cho hệ thống vận chuyển điện tử. Thiếu ribollavin sẽ gây sần rám đa, chốc mép, khô nứt môi, viêm lưỡi và viêm miệng. Có thể có những triệu chứng về mắt như ngứa và rất bỏng, sợ ánh sáng và rối loạn phân bố mạch ở giác mạc. Một số triệu chứng này thực ra là biểu hiện của thiếu các vitamin khác, như pyridoxin hoặc acid nicotinic do các vitamin này không thực hiện được đúng chức năng của chúng khi thiếu riboflavin. Thiếu riboflavin có thể xảy ra cùng với thiếu các vitamin D, ví dụ như ở bệnh pellagra.
Thiếu riboflavin có thể phát hiện bằng cách đo gluthathion reductase và đo họat tính của enzym này khi thêm FAD trên in vitro. Thiếu riboflavin có thể xảy ra khi chế độ dinh dưỡng không đi, hoặc bị kém hấp thu, nhưng không xảy ở những người khoẻ ăn uống hợp lý.
Thiếu riboflavin thường gặp nhất ở người nghiện rượu, người bệnh gan, ung thư, stress nhiễm khuẩn, ốm lâu ngày, sốt, ỉa chảy, bỏng, chấn thương nặng, cất bỏ dạ dày, trẻ em có lượng bilirubin huyết cao và người sử dụng một số thuốc gây thiếu hụt riboflavin.
Vitamin B6 (pyridoxine) khi vào cơ thể biến đổi thành pyridoxal phosphat và một phần thành pyridoxamin phosphat. Hai chất này hoạt động như những coenzym trong chuyến hóa protein, glucid va lipid. Pyridoxin tham gia tổng hợp acid y-aminobutyric (GABA) trong hệ thần kinh trung ương và tham gia tổng hợp hemoglobulin.
Nhu cầu hàng ngày cho trẻ em là 0,3-2 mg, người lớn khoảng 1,62 mg và người mang thai hoặc cho con bú là 2,1-2/2 mg. Hiếm gặp tình trạng thiếu hụt vitamin B6 ở người, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp rồi loạn hấp thu, rối loạn chuyển hóa bấm sinh hoặc rối loạn do thuốc gây nên. Với người bệnh điều trị bằng isoniazid hoặc phụ nữ uống thuốc tránh thai, nhu cầu vitamin B6 hàng ngày nhiều hơn bình thường.
Trong cơ thể, nicotinamid được tạo thành từ acid nicotinic. Thêm vào đó, một phần tryptophan trong thức ăn được oxi hóa tạo thành acid nicotinic và sau đó thành nicotinamid. Nicotinamid và acid nicotinic là vitamin nhóm B, tan trong nước.
Trong cơ thể, nicotinamid thực hiện chức năng sau khi chuyển thành hoặc nicotinamid adenin dinueleotid (NAD) hoặc nicotinamid adeoin đinueleotid phosphat (NADP). NAD va NADP có vai trò sống còn trong chuyển hóa, như một coenzym xúc tác phản ứng oxi hóa – khứ cần thiết cho hô hấp tế bào, phân giải glycogen, và chuyên hóa lipid, Trong các phản ứng đó các cocnzym này có tác dụng như những phân tử vận chuyển hydro.
Bổ sung nicotinamid vào khẩu phần ăn: Khi khẩu phần ăn thiếu nicotinamid, và chế độ ăn thiểu protein có thể dẫn đến thiểu hụt nieotinamid cho cơ thể. Trong trường hợp đó và trong trường hợp tăng nhụ cầu về nicotinamid, như ở bệnh cường tuyến giáp, đái tháo đường, xơ gan, trong thời gian mang thai và cho con bú (nhưng những ngời này hiếm khi thiếu hụt nieotinamid), có thể cần thiết phải bố sung nicotinamid.
Bệnh pellagra: Thiếu nicotinamid có thể gây ra bệnh pellagra, do khẩu phần ăn thiếu nicotinamid hay do điều trị bằng isoniazid, hoặc do giảm chuyển hóa tryptophan thành acid nicotinic trong bệnh Hartnup, hoặc do u ác tính. Vì các u này cần sử dụng một lượng lớn tryptophan để tổng hợp 5 – hydroxytryptophan va 5 – hydroxytryptamin. Thiếu nicotinamid có thể xảy ra cùng với sự thiếu các vitamin phức hợp B khác. Các cơ quan bị ảnh hưởng chủ yếu do thiếu hụt nieotinamid là đường tiêu hóa, da và hệ thần kinh trung ương. Dùng nicotinamid hoặc aeid nicotinic sẽ làm mất các triệu chứng do thiểu hụt gây ra. Những triệu chứng đỏ và sưng lưỡi ở người bị bệnh pellagra sẽ hết trong vòng 24 – 72 giờ sau khi dùng nicotinamid. Triệu chứng tâm thần, nhiễm khuẩn miệng và các màng nhày khác sẽ hết nhanh chóng. Triệu chứng ở đường tiêu hóa sẽ hết trong vòng 24 giờ. Aeid nicotinie gây giải phóng histamin, dẫn đến tăng nhu động dạ dày và tăng tiết acid; thuốc còn hoạt hóa hệ phân hủy fibrin. Liều cao acid nicotinie làm giảm bài tiết acid urie và giảm dung nạp glucose.
Dexpanthenol la rượu tương ứng của acid pantothenic (Pantoyl-B-alanine, vitamin B5). Acid pantothenic là một hợp chất của coenzyme A- một cofactor cho một số phản ứng sinh hóa và là enzyme xúc tác cho phản ứng chuyển hóa của các nhóm axetyl như phản ứng cấu thành và phân hủy của các acid béo, quá trình trao đối chất, oxi hóa của carbon hydrate, sinh tổng hợp steroids.
Vitamin C cần cho sự tạo thành colagen, tu sửa mô trong cơ thể và tham gia trong một số phản ứng oxi hóa – khử. Vitamin C tham gia trong chuyển hóa phenylalanin, tyrosin, acid folic, norepinephrin, histamin, sắt, và một số hệ thống enzym chuyển hóa thuốc, trong sử dụng carbohydrat, trong tổng hợp lipid và protein, trong chức năng miễn dịch, trong đề kháng với nhiễm khuẩn, trong giữ gìn sự toàn vẹn của mạch máu và trong hô hấp tế bào. Thiếu hụt vitamin C dẫn đến bệnh scorbut, trong đó có sự sai sót tổng hợp colagen với biểu hiện là không lành vết thương, khiếm khuyết về cấu tạo răng, vỡ mao mạch gây nhiều đốm xuất huyết, đám bầm máu, chảy máu dưới da và niêm mạc (thường là chảy máu lợi). Dùng vitamin C làm mắt hoàn toàn các triệu chứng thiểu hụt vitamin C.
VitaminE là thuật ngữ chỉ một số các hợp chất thiên nhiên và tổng hợp, chất quan trọng nhất là các tocopherol, trong đó alphatoeopherol có hoạt tính nhất và được phân bố rộng rãi trong tự nhiên; các chất khác của nhóm tocopherol gồm beta, gamma và delta tocopherol, nhưng những chất này không dùng trong điều trị, mặc dù chúng có trong thực phẩm. Nhóm hợp chất khác có hoạt tính vitamin E là các tocotrienol.
Mặc dù các tocopherol có trong thực phẩm, nhưng cũng đã được tổng hợp. Tuy nhiên, alphatocopherol tong hợp (DL-alphatocopherol) có họat tính sinh học kém hơn các chất trong tự nhiên, chiết từ nguồn dược liệu (d – alphatocopherol).
Ngoài việc làm mất các triệu chứng thiếu vitamin E, vitamin E còn dược sử dụng làm chất chống oxi hóa mà về mặt lý thuyết có thể do một trong các cơ chế tác dụng sau:
Ngăn cản oxi hóa các thành phần thiết yếu trong tế bào; ngăn cản tạo thành các sản phẩm oxi hóa độc hại, ví dụ các sản phẩm peroxy hóa do chuyển hóa các acid béo chưa bão hòa; phản ứng với các gốc tự do (nguyên nhân gây tổn hại màng tế bào do oxi hóa), mà không tạo ra các gốc tự do khác trong quá trình đó.
Có mỗi tương quan giữa vitamin A và vitamin E: Tăng hấp thu vitamin A qua ruột khi có vitamin E; vitamin E bảo vệ vitamin A khỏi bị thoái hóa do oxi hóa làm cho nồng độ vitamin A trong tế bào tăng lên; vitamin E cũng bảo vệ chống lại tác dụng của chứng thừa vitamin A.
Nhu cầu hàng ngày về vitamin E là 10mg d-alphato-copherol cho nam và 8mg cho nữ. Sữa người có đủ lượng vitamin E đáp ứng yêu cầu của trẻ bú.
Vitamin E phân bố rộng rãi trong thức ăn. Nguồn vitamin E giàu nhất là dầu thực vật, đặc biệt là dầu mầm lúa mì, dầu hướng dương, dầu hạt bông; ngũ cốc và trứng cũng là nguồn giàu vitamin E. Vitamin E không bị phân hủy khi nấu nướng.
Calci được hấp thu ở phần trên của ruột non. Ở người lớn khỏe mạnh, lượng hấp thu dược chiếm khoảng 1/3 lượng ăn vào. Vitamin D làm gia tăng sự hấp thu calci và phosphat từ ruột đồng thời huy động calci vào trong xương. Vitamin D kích thích sự hấp thu phosphat từ ruột và điều này dẫn đến tác dụng của vitamin D trên sự chuyển vận calci.
Hệ xương chứa 20% lượng calci trong cơ thể. Các mảnh cấu trúc của xương không chỉ cấu tạo bởi calci mà còn bởi nhiều loại muối vô cơ khác bao gồm natri, kali, magie, carbonat va fluor. Trong huyết tương, 40% lượng calci ở dưới dạng kết hợp với protein, 10% phân tán và tạo phức hợp với anion như citrat và phosphat, số còn lại phân tán dưới dạng ion calci. Calci được bài tiết qua hệ tiêu hóa như qua nước bọt, mật và dịch tụy để thải qua phân. Calci cũng được bài tiết đáng kể qua sữa mẹ và mồ hôi. Calci được thải trừ qua nước tiểu và có mối liên quan với việc bài tiết sodium. Calci được tái thu tại ống lượn gần dưới ảnh hưởng của PTH Và tại ỗng lượn xa dưới ảnh hưởng của vitamin D.
Vitamin A được các enzym của tụy thủy phần thành retinol và được hấp thu ở ống tiêu hóa. Kém hấp thu mỡ, ăn thiếu protein, rỗi loạn chức năng gan hay chức năng tụy làm giảm hấp thu vitamin A. Một số retinol được dự trữ ở gan và từ đây được giải phóng vào máu dưới dạng gắn với một globulin đặc hiệu. Dự trữ vitamin A của cơ thể thường đáp ứng đủ cho nhu cầu cơ thể trong vài tháng.
Phần retinol tự do bị liên hợp glucuronic và bị oxi hóa thành retinal va acid retinoic rồi được đào thải qua nước tiểu và phân cùng với những chất chuyền hóa khác.
Nồng độ bình thường của vitamin A trong huyết tương là từ 300 đến 600 mierogamílít. Trong trường hợp thiếu vitamin A thì nỗng độ thấp < 100 microgam/lít, còn trong trường hợp quá liều hay ngộ độc thì nồng độ này cao hơn nhiều.
Vitamin D3 được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa. Phần chính xác ở ruột hấp thu nhiều vitamin D tùy thuộc vào môi trường mà vitamin D được hòa tan. Mật cần thiết cho hấp thu vitamin D ở ruột. Vì vitamin D tan trong lipid nên được tập trung trong vi thể dưỡng chấp, và được hấp thu theo hệ bạch huyệt; xấp xi 80% lượng vitamin D Dùng theo đường uống được hấp thu theo cơ chế này. Vitamin D và các chất chuyển hóa của nó luân chuyển trong máu liên kết với a-elobulin đặc hiệu. Nửa đời trong huyết tương của vitamin D là 19 – 25 giờ, nhưng thuốc được lưu giữ thời gian dài trong các mô mỡ.
Cholecaleiferol được hydroxyl hóa ở gan tạo thành 25 — hydroxyeholeealeiferol, sau đó chất này tiếp tục được hydroxyl hóa ở thận để tạo thành chất chuyển hóa hoạt động 1.25. – dihydroxycholecaleiferol và những dẫn chất 1,24.25 – trihydroxy. Gan là nơi chuyền vitamin D thành 25 – OHD, chất này liên kết với protein và luân chuyển trong máu. Thực tế, 25 – OHD có ái lực cao với protein hỗn hợp chất mẹ. Dẫn chất 25 – hydroxy có nửa đời là 19 ngày và là dạng chủ yếu của vitamin l2 trong máu. Nồng độ ở trạng thái ổn định của 25 – OHD là [5 – 50 nanogam/ml. Nửa đời của calcitriol khoảng 3 – 5 ngày, và 40% liều điều trị được đào thải trong vòng 10 ngày. Calcitriol được hydroxyl hóa bởi men hydroxylase ở thận thành 1,24,25- (OH)3193, men này còn hydroxyl hóa 25- OHD3 để tạo thành 24,25- (OH)2D3. Cả 2 hợp chất 24 – hydroxy này có ít hoạt tính hơn calcitriol va có thể là sản phẩm bài xuất. Vitamin D và các chất chuyển hóa của nó được bài xuất chủ yếu qua mật và phân, chỉ có một lượng nhỏ xuất hiện trong nước tiểu.
Sự hấp thu thiamin trong ăn uống hàng ngày qua đường tiêu hóa là do sự vận chuyển tích cực phụ thuộc Na+. Khi nồng độ thiamin trong đường tiêu hóa cao sự khuếch tần thụ động cũng quan trọng. Tuy vậy, hấp thụ liều cao bị hạn chế. Sau khi tiêm bắp, thiamin cũng được hấp thu nhanh, phân bố vào đa số các mô và sữa. Ở người lớn, khoảng 1mg thiamin bị giáng hóa hoàn toàn mỗi ngày trong các mô, và đây chính là lượng tối thiểu cần hàng ngày. Khi hấp thụ ở mức thấp này, có rất ít hoặc không thấy thiamin thải trừ qua nước tiểu. Khi hấp thu vượt quá nhu cầu tối thiểu, các kho chứa thiamin ở các mô đầu tiên được bão hòa. Sau đó lượng thừa sẽ thải trừ qua nước tiểu dưới dạng phân tir thiamin nguyên vẹn. Khi hấp thu thiamin tăng lên hơn nữa, thải trừ dưới dạng thiamin chưa biến hóa sẽ tăng hơn.
Riboflavin được hấp thu chủ yếu ở tá tràng. Các chất chuyển hóa của ribollavin là flavin mononucleotid (FMN) và flavin adenin dinucleotid (FAD), được phân bố khắp các mô trong cơ thể và vào sữa. Một lượng nhỏ được dự trữ ở gan, lách, thận và tim. Sau khi uống hoặc tiêm bấp, khoảng 60% FAD va FMN gắn vào protein huyết tương. Rjboflavin là một vitamin tan trong nước, đào thải qua thận. Lượng đưa vào vượt quá sự cần thiết của cơ thể sẻ thai dưới dạng không đổi trong nước tiểu. Riboflavin còn thải theo phân. Ở người thẩm phân màng bụng và lọc máu nhân tạo, riboflavin cũng được đảo thải, nhưng chậm hơn ở người có chức năng thận bình thường. Riboflavin có đi qua nhau thai và đảo thải theo sữa.
Vitamin B6 (pyridoxine) được hấp thu nhanh chóng qua đường tiêu hóa, trừ trường hợp mắc các hội chứng kém hấp thu. Sau khi tiêm hoặc uống, thuốc phần lớn dự trữ ở gan và một phần ở cơ và não, Pyridoxin thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng chuyển hóa. Lượng dựa vào, nếu vượt quá nhu cầu hàng ngày, phần lớn đào thải dưới dạng không biến đổi.
Nieotinamid được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa sau khi uống và phân bố rộng khắp vào các mô cơ thể. Acid nieotinic có trong sữa người. Nửa đời thải trừ của thuốc khoảng 45 phút. Nicotinamid chuyển hóa ở gan thành N-methylnicotinamid, các dẫn chất 2-pyridon va 4-pyridon, và còn tạo thành nicotinuric. Sau khi dùng nieotinamid với liều thông thường, chỉ có một lượng nhỏ nieotinamid bài tiết vào nước tiếu ở dạng không thay đổi; tuy nhiên khi dùng liêu lớn thì lượng thuốc bài tiết dưới dạng không thay đổi sẽ tăng lên.
Coenzyme A là một hợp chất dĩnh dưỡng và được thủy phân thành acid pantothenic trong ruột. Aecid Iexpanthenol và D – pantothenie được hấp thu nhanh và hoàn tòan từ ruột non,. Trong máu, acid pantothenie được liên kết với protein huyết tương. Bên trong tế bào acid pantothenie được chuyển thành coenzyme A. Acid pantothenic được đào thải qua thận.
Hấp thu: Vitamin C được hấp thu đễ dàng sau khi uống; tuy vậy, hấp thu là một quá trình tích cực và có thể bị hạn chế sau những liều rất lớn. Trong nghiên cứu trên người bình thường, chỉ có 50% của một liều uống 1,5g vitamin C được hấp thu. Hấp thu vitamin C ở dạ dày – ruột có thể giảm ở người ỉa chảy hoặc có bệnh về dạ dày- ruột.
Nồng độ vitamin C bình thường trong huyết tương ở khoảng 10-20 microgam/ml. Dự trữ toàn bộ vitamin C trong cơ thể ước tính khoảng 1,5g với khoảng 30- 45mg được luân chuyển hàng ngày. Dấu hiệu lâm sàng của bệnh scorbut thường trở nên rõ ràng sau 3 – 5 tháng thiếu hụt vitamin C.
Phân bố: Vitamin C phân bố rộng rãi trong các mô cơ thể. Khoảng 25% vitamin C trong huyết tương kết hợp với protein.
Thải trừ: Vitamin C oxi – hóa thuận nghịch thành acid dehydroascorbic. Một ít vitamin C chuyển hóa thành những hợp chất không có hoạt tính gồm ascorbic acid-2-sulfat và acid oxalie được bài tiết trong nước tiểu. Lượng vitamin C vượt quá nhu cầu của cơ thể cũng được nhanh chóng đào thải ra nước tiểu dưới dạng không biến đổi. Điều này thường xảy ra khi lượng vitamin C nhập hàng ngày vượt quá 200 mg.
Để vitamin E hấp thu qua đường tiêu hóa, mật và tuyến tụy phải hoạt động bình thường. Lượng vitamin E hấp thu giảm khi liều dùng tăng lên. Thuốc vào máu qua vì thế dưỡng chấp trong bạch huyết, rồi được phân bố rộng rãi vào tất cả các mô và tích lại ở mô mỡ. Một ít vitamin E chuyển hóa ở gan thành các glucuronid của acid tocopheronic và gamma – lacton của acid này, rồi thải qua nước tiểu, còn hầu hết liều dùng thải trừ chậm vào mật. Vitamin E vào sữa, nhưng rất ít qua nhau thai.
Tittit Syrup được bào chế dưới dạng siro, có màu cam đến vàng. Thuốc được đựng trong lọ, bao bên ngoài là hộp giấy cartone màu tím + trắng, mặt trước có in tên thuốc Tittit màu trắng và thông tin chi tiết màu đen. 2 mặt bên có in thông tin về thành phần, nhà sản xuất, chỉ định, cách dùng,….
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 3 vỉ x 10 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Khối lượng tịnh: 100g.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Tittit Syrup có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.
Tittit Syrup có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp 30 viên. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VN-20957-18
Công Ty M/s Bio-Labs (PVT) Ltd.
Địa chỉ: Plot No.145 Industrial Triangle, Kahuta Road, Islamabad – Pakistan
Pakistan
Không có bình luận nào
Không hiển thị thông báo này lần sau.
Chưa có đánh giá nào.