Thông tin từ: 
Đây là dữ liệu cấp số đăng ký lưu hành gốc theo các quyết định cấp số đăng ký (SĐK) lưu hành (chưa bao gồm các dữ liệu đã được đính chính, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy ĐKLH trong quá trình lưu hành)
| Số giấy phép lưu hành (GPLH) |
|
|---|---|
| Ngày hết hạn SĐK |
|
| Tên thuốc |
|
| Thông tin hồ sơ gia hạn |
|
| Hoạt chất |
|
| Hàm lượng |
|
| Số quyết định |
|
| Năm cấp |
|
| Đợt cấp |
|
| Dạng bào chế |
|
| Quy cách đóng gói |
|
| Tiêu chuẩn |
|
| Tuổi thọ |
|
| Thông tin công ty đăng ký |
|
| Thông tin công ty sản xuất |
|
| Tài liệu công bố thay đổi bổ sung |
Sao chép số giấy phép lưu hành (GPLH) từ bảng thông tin trên, sau đó vào website Dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế:

Số đăng ký là mã do Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành cho từng loại thuốc. Số đăng ký là dãy số đứng sau chữ SĐK - các mã thường bắt đầu bằng:
Kiểm tra đầy đủ, đối chiếu các thông tin dựa trên kết quả được tìm kiếm.

Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Việt Nam |
| Quy cách | Hộp 2 vỉ x 14 viên |
| Thương hiệu | DP Sao Kim |
| Chuyên mục | Ung thư |
| Số đăng ký |
VD-27032-17
|
| Nhà sản xuất | Công ty Cổ phần Dược phẩm Sao Kim |
| Hoạt chất | Anastrozol |
| Thành phần | Anastrozol |
VICTANS là thuốc điều trị nội tiết, được chỉ định cho phụ nữ sau mãn kinh trong điều trị ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính. Thuốc dùng trong điều trị bổ trợ ban đầu hoặc sau khi đã điều trị tamoxifen từ 2–3 năm.
VICTANS được chỉ định điều trị cho những trường hợp: Điều trị ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính ở phụ nữ sau mãn kinh. Điều trị bổ trợ ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính ở phụ nữ sau mãn kinh. Điều trị bổ trợ ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính ở phụ nữ sau mãn kinh, người đã điều trị bổ trợ bằng tamoxifen được 2-3 năm.
Sản phẩm đã được Cục Dược – Bộ Y tế cấp phép dưới dạng thuốc kê đơn, chỉ bán theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.
VICTANS bao gồm những thành phần chính như là
Anastrozole 1 mg
Tá dược Vừa đủ 1 viên.
VICTANS cần phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng.
Dưới đây là liều lượng tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh.
Uống anastrozole với một ít nước.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhân nhi
Bệnh nhân suy thận
Bệnh nhân suy gan
Để tránh gặp phải những phản ứng phụ không mong muốn thì những đối tượng sau đây không nên sử dụng:
Trong quá trình sử dụng VICTANS, quý vị cần thận trọng với những trường hợp sau:
Cảnh báo chung
Bệnh nhân suy thận
Ảnh hưởng đến mật độ xưong
Bệnh nhân suy gan
Bệnh nhân Nhi
Quá mẫn cảm với lactose
Mang thai:
Không có dữ liệu từ việc sử dụng anastrozole ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính. Anastrozole được chống chỉ định trong thai kỳ.
Cho con bú:
Không có dữ liệu về việc sử dụng anastrozole ở phụ nữ cho con bú. Anastrozole được chống chỉ định trong thời gian cho con bú.
Khả năng sinh sản
Những ảnh hưởng của anastrozole về khả năng sinh sản ở người chưa được nghiên cứu. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính.
Trong quá trình sử dụng VICTANS thì có thể sẽ gặp 1 số phản ứng phụ không mong muốn như sau: Tác dụng không mong muốn dưới đây được liệt theo tần suất và hệ cơ quan (System Organ Class, SOC). Nhóm tần suất được xác định theo quy ước sau: rất phổ biến (> 1/10), thường gặp (> 1/100 đến <1/10), ít gặp (> 1/1.000 đến <1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 đến <1/1.000), và rất hiếm gặp (<1/10.000). Các phản ứng phụ không mong muốn thường gặp nhất khi sử dụng anastrozol là đau đầu, nóng bừng mặt, buồn nôn,
| phát ban, đau khớp, cứng khớp, viêm khớp và suy nhược. | ||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Phổ biến | Biếng ăn
Tăng cholesterol máu |
| Rối loạn hệ thần kinh | Rất phổ biến | Đau đầu | |
| Phổ biến | Ngủ gà
Hội chứng ống cổ tay* |
||
| Rối loạn mạch máu | Rất phổ biến | Nóng bừng | |
| Rối loạn tiêu hóa | Rất phổ biển | Buồn nôn | |
| Phổ biến | Tiêu chảy
Nôn |
||
| Rối loạn gan mật | Phổ biến | Tăng phosphatase kiềm, alanine aminotransferase và aspartat aminotransferase | |
| Không phổ biến | Tăng gamma-GT và bilirubin Viêm gan siêu vi | ||
| Rối loạn da và mô mềm | Rất phổ biến | Phát ban | |
| Phổ biến | Thưa tóc (rụng tóc) Phản ứng dị ứng | ||
| Không phổ biến | Mề đay | ||
| Hiếm | Hồng ban đa dạng
Phản ứng phàn vệ Viêm mạch da (bao gồm cả một số báo cáo của ban xuất huyết Henoch- Schonlein |
||
| Rất hiếm | Hội chứng Stevens-Johnson Phù mạch | ||
| Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết | Rất phổ biến | Đau khớp/cứng khớp Viêm khớp
Loãng xương |
|
| Phổ biến | Đau xương | ||
| Không phổ biến | Ngón tay cò súng | ||
| Rối loạn hệ thống sinh sản và tuyến vú | Phổ biến | Khô âm đạo Chảy máu âm đạo*** | |
| Rổi loạn chung và nhũng trường hợp khác | Rất phổ biến | Suy nhược | |
| * Trường họp của hội chứng ống cố tay (Carpal Tunnel Syndrome) đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị Anastrozole trong các thử nghiệm lâm sàng với số lượng nhiều hơn so với những người được điều trị bang tamoxifen. Tuy nhiên, đa số các trường hợp lại xảy ra ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ để phát triển tình trạng này.
** do viêm mạch da và ban xuất huyết Henoch-Schổnlein không được quan sát trong thử nghiệm ATAC, tần suất cho các trường hợp này có thể được coi là ‘hiếm’ (> 0,01% và <0,1%) dựa trên giá trị tồi tệ nhất cùa các điểm đánh giá. *** Chảy máu âm đạo đã được báo cáo thường xuyên, chủ yếu là ở những bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn sớm trong vài tuần đầu tiên sau khi thay đổi từ điều trị nội tiết tố sang điều trị bằng anastrozole. Nếu chảy máu vẫn tiếp diễn, cần phài quan tâm đánh giá sâu hơn. |
|||
Các trường hợp xảy ra quá liều trong lâm sàng hiếm được báo cáo. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy anastrozol có độc tính cấp thấp. Các nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành với hàng loạt các liều anastrozol khác nhau cho tới 60 mg dùng liềuđơn cho nam giới tình nguyện khoẻ mạnh và với liều tới 10 mg mỗi ngày cho bệnh nhân nữ ung thư vú tiến triển sau mãn kinh cho thấy các liều nghiên cứu đã được dung nạp tốt. Chưa có báo cáo nào về các triệu chứng nguy hiểm tính mạng do sử dụng liều đơn anastrozol. Không có thuốc giải độc đặc hiệu và điều trị quá liều, nếu có phải dựa theo triệu chứng.
Để xử trí quá liều cần xem xét khả năng sử dụng phối hợp nhiều thuốc. Có thể dùng thuốc gây nôn nếu cần đề phòng. Lọc máu có thể hiệu quả do anastrozol không kết hợp nhiều với protein, cần có các biện pháp chăm sóc hỗ trợ nói chung, bao gồm theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn và quan sát bệnh nhân cẩn thận
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Nhóm dược lý: thuốc ức chế enzyme
MãATC:L02B G03
Cơ chế tác dụng;Anastrozole là một chất ức chế enzyme aromatase không steroid, có tính chọn lọc cao và mạnh, ở phụ nữ sau mãn kinh, estradiol được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình chuyển hóa androstenedione thành estrone thông qua phức hợp enzyme aromatase ở các mô ngoại vi. Những estrone này sau đó được chuyển thành estradiol. Sự giảm estradiol trong máu đã được chứng minh mang lại hiệu quả có lợi cho bệnh nhân bị ung thư vú.
Ở phụ nữ sau mãn kinh, dùng anastrozole với liều hàng ngày 1 mg làm giảm trên 80% lượng estradiol, sử dụng phương pháp định lượng có độ nhạy cao.
Anastrozole không có bất kỳ hoạt tính kiểu progestogen, androgen, hay oestrogen nào.
Kết quả do hormone adrenocorticotrophic (ACTH) chuẩn trước và sau điều trị chứng minh liều hàng ngày của anastrozole lên đến 10 mg cũng không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến quá trình tiết cortisol hoặc aldosterone. Do vậy, không cần bổ sung corticoid.
Hiệu quả và an toàn trên lâm sàng
Trên bênh nhãn ung thư vú giai đoan sớm
Điều trị tuyến 1 trên phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn sớm
Hai nghiên cứu mù đôi, có kiểm soát lâm sàng được thiết kế giống nhau (Nghiên cứu 1033IL/0030 và Nghiên cứu 1033IL/0027) đã được tiến hành để đánh giá tính hiệu quả của anastrozole so với tamoxifen như là liệu pháp điều trị tuyến 1 trên phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú có thụ thể hormone dương tính hoặc thụ thể hormone chưa xác định, giai đoạn sớm, tại chỗ hoặc di căn. Tổng cộng có 1.021 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên được uống 1 mg anastrozole một lần/ngày hoặc 20 mg tamoxifen một lần/ngày. Thời điểm kết thúc chính cho cả hai thử nghiệm này là thời gian khối u tái phát, tỷ lệ đáp ứng khách quan của khôi u, và tính an toàn.
Nghiên cứu 1033IL/0030 cho thấy anastrozole có lợi thế đáng kể trên thống kê so với tamoxifen về thời gian khối u tái phát (tỷ lệ rủi ro (Hazard ratio, HR) là 1.42, 95% khoảng tin cậy (Confidence Interval, CI) là [1,11 – 1,82], thời gian tái phát trung bình là 11.1 và 5,6 tháng tưomg ứng với anastrozole và tamoxifen, p = 0,006); tỷ lệ đáp ứng khách quan của khối u của anastrozole và tamoxifen tương tự nhau. Nghiên cứu 1033IL/0027 cho thấy anastrozole và tamoxifen có tỷ lệ đáp ứng khách quan của khối u và thời gian khối u tái phát là tương tự nhau. Kết quả từ các đích theo dõi phụ đều ủng hộ các kết quả chính về mặt hiệu quả. Có quá ít trường hợp tử vong xảy ra giữa các nhóm điều trị cả hai thử nghiệm để rút ra kết luận về sự khác biệt tỉ lệ sống sót nói chung.
Điều trị tuyến 2 ở phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn sớm
Anastrozole đã được nghiên cứu trong hai thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát (Nghiên cứu 0004 và Nghiên cứu 0005) trên phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn sớm, những người bị tái phát sau khi điều trị bệnh bằng tamoxifen cho một trong hai bệnh ung thư vú giai đoạn sớm hoặc khởi phát. Tổng cộng có 764 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên dùng hoặc một liều duy nhất Img hay lOmg anastrozole hàng ngày hoặc 40mg megestrol acetate/lan X 4 lần /ngày. Thời gian khối u tái phát và tỷ lệ đáp ứng khách quan là các biến số hiệu quả chính. Tỷ lệ bệnh ổn định kéo dài (hơn 24 tuần), tỷ lệ tái phát, và còn sống cũng được tính toán. Trong cả hai nghiên cứu đều không có sự khác biệt đáng kể giữa các cách điều trị với bất kỳ thông số hiệu quả nào.
Điều tri hỗ trơ ung thư vú giai đoan sớm cho bênh nhân có thu the hormone dương tính.
Trong một nghiên cứu Pha III qui mô lớn được tiến hành trong 5 năm trên 9366 phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú có thể phẫu thuật (xem bảng dưới đây), cho thấy anastrozole cho hiệu quả điều trị tốt hơn về mặt thống kê so với tamoxifen trên khả năng sống sót không mắc bệnh. Tỉ lệ sống sót không mắc bệnh của anastrozole lớn hơn so với tamoxifen trên nhóm bệnh nhân được chẩn đoán có thụ thể hormone dương tính.
Bảng 1: Tóm tắt kết quả điều trị trong nghiên cứu ATAC (Nghiên cứu đon lẻ hoặc phối hợp anastrozole và tamoxifen): phân tích toàn diện 5 năm điều trị
| Hiệu quả | Số truồng họp (tần số) | |||
| Nhóm được điều trị | Tình trạng khối u chứa thụ thể hormone du’O’ng tính | |||
| Anastrozole (n = 3125) | Tamoxifen (n=3116) | Anastrozole (n = 2618) | Tamoxifen (n = 2598) | |
| Sống sót không mắc bệnh” | 575 (18,4) | 651 (20,9) | 424(16,2) | 497(19,1) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0.87 | 0,83 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,78-0,97 | 0,73-0,94 | ||
a sống sót không măc bệnh bao gôm tât cả các trường hợp tái phát và được định nghĩa là sự xuât hiện đâu tiên của sự tái phát tại chỗ, ung thư vú mới đối bên, tái phát sớm hoặc chết (vi lý do bất kỳ).
| Giá trị p | 0,0127 | 0,0049 | ||
|---|---|---|---|---|
| sống sót không mắc bệnh só’mb | 500(16,0) | 530(17,0) | 370(14.1) | 394(15,2) |
| Tỳ lệ rủi ro | 0.94 | 0,93 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,83-1,06 | 0,80-1,07 | ||
| Giá trị p | 0,2850 | 0,2838 | ||
| Thòi gian cho tới khi tái phátc | 402(12,9) | 498(16,0) | 282(10,8) | 370 (14.2) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0,79 | 0,74 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,70-0,90 | 0,64 – 0,87 | ||
| Giá trị p | 0,0005 | 0,0002 | ||
| Thòi gian để tái phát só’md | 324(10,4) | 375 (12.0) | 226 (8.6) | 265 (10,2) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0.86 | 0,84 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,74-0,99 | 0,70-1,00 | ||
| Giá trị p | 0,0427 | 0,0559 | ||
| Ung thư vú đổi bên mói | 35(1.1) | 59(1.9) | 26(1.0) | 54(2.1) |
| Tỳ số chênh | 0.59 | 0.47 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,39-0,89 | 0,30-0,76 | ||
| Giá trị p | 0,0131 | 0,0018 | ||
| Tổng tỷ lệ sống sótc | 411 (13,2) | 420(13,5) | 296 (11,3) | 301 (11,6) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0,97 | 0,97 | ||
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,85-1,12 | 0,83-1,14 | ||
| Giá trị p | 0,7142 | 0,7339 | ||
b Sống sót không mắc bệnh sớm được định nghĩa là sự xuất hiện đầu tiên của sự tái phát sớm hoặc chết (vì lý do bất kỳ).
c Thời gian cho tới khi tái phát được định nghĩa là sự xuất hiện đầu tiên cùa tái phát tại chỗ, ung thư vú mới đối bên, tái phát sớm hoặc tử vong do ung thư vú.
d Thời gian để tái phát sớm được định nghĩa là sự xuất hiện đầu tiên của sự tái phát sớm hoặc tử vong do ung thư vú.
e Số bệnh nhân đã qua đời (%).
Kết hợp anastrozole và tamoxifen hiệu quả điều trị không hơn so với tamoxifen trong tất cả các bệnh nhân cũng như trong nhóm bệnh nhân có thụ the hormone dương tính. Cách điều trị này đã bị dừng từ nghiên cửu này.
Một theo dõi cập nhật số liệu có độ dài trung bình 10 năm so sánh hiệu quả điều trị của anastrozole so với tamoxifen đã chỉ ra được sự phù hợp với những phân tích trước đây.
Điều trị hỗ trơ ung thư vú giai đoan sớm cho bệnh nhản có thụ thể hormone dương tính đang được điểu tri bang bang tamoxifen
Trong một thử nghiệm trên lâm sàng Pha III (Nhóm nghiên cứu ung thư vú và đại trực tràng Áo [ABCSG] 8) thực hiện trên 2579 phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính đã phẫu thuật có hoặc không có xạ trị và không có hóa trị (xem bảng dưới đây), chuyển sang sử dụng anastrozole sau 2 năm điều trị hỗ trợ với tamoxifen cho kết quả tốt hơn có ý nghĩa thống kê về khả năng sống sótkhông mắc bệnh khi so sánh với nhóm còn lại chỉ dùng tamoxifen, sau một khoảng thời gian theo dõi trung bình là 24 tháng.
Bảng 2. tóm tắt kết quả theo dõi lâm sàng của ABCSG 8
| Hiệu quả | Số trường hợp (tần số) | |
| Anastrozole (n = 1297) | Tamoxifen (n = 1282) | |
| Sống sót không mắc bệnh | 65 (5.0) | 93 (7.3) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0.67 | |
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,49-0,92 | |
| Giá trị p | 0,014 | |
| Thòi gian cho đến khi tái phát bất kỳ | 36 (2.8) | 66 (5.1) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0,53 | |
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,35-0,79 | |
| Giá trị p | 0,002 | |
| Thời gian cho đến khi tái phát sóm | 22(1.7) | 41 (3.2) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0,52 | |
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,31-0,88 | |
| Giá trị p | 0,015 | |
| Ung thư vú đối bên mói | 7 (0.5) | 15(1.2) |
| Tỷ số chênh | 0,46 | |
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,19-1,13 | |
| Giá trị p | 0,090 | |
| Tỷ lệ sống sót tổng | 43 (3.3) | 45 (3.5) |
| Tỷ lệ rủi ro | 0,96 | |
| Độ tin cậy 95% hai mặt (CI) | 0,63-1,46 | |
| Giá trị p | 0,840 | |
Ở hai thử nghiệm lâm sàng tương tự khác (GABG/Arno 95 và ITA), thực hiện trên cùng một nhóm bệnh nhân được phẫu thuật và hóa trị liệu, dựa trên những phân tích tổng hợp của ABCSG 8 và GABG/Amo 95 khẳng định tính an toàn cho các kết quả này.
Tính an toàn của anastrozole thu được từ 3 nghiên cứu này là phù hợp với hồ sơ an toàn đã được công bố trước đó ở phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn đầu có thụ thể hormone dương tính.
Mật độ khoáng trong xương (BMP)
Trong một nghiên cứu lâm sàng Pha III/IV (nghiên cứu kết hợp anastrozole với thuốc Bisphosphonate Risedronate [SABRE]), trên 234 phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormon dương tính được sắp xếp điều trị bang anastrozole 1 mg/ngày cho các nhóm bệnh nhân có nguy cơ gãy xương thấp, trung bình và cao. Các thông số đánh giá hiệu quả chính là việc phân tích mật độ, khối lượng xương cột sống thắt lưng bằng phương pháp scan DEXA. Tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng vitamin D và canxi. Bệnh nhân trong nhóm nguy cơ thấp chỉ dùng anastrozole (N = 42), bệnh nhân trong nhóm có nguy cơ vừa được chọn ngẫu nhiên để nhận anastrozole cộng thêm risedronate 35 mg mỗi tuần một lần (N = 77) hoặc anastrozole cộng với giả dược (N = 77) và những bệnh nhân trong nhóm nguy cơ cao được nhận anastrozole cộng thêm risedronate 35 mg mỗi tuần một lần (N = 38). Kết thúc nghiên cứu sau 12 tháng điều trị đánh giá sự thay đổi mật độ, khối lượng xương cột sống thắt lưng so với ban đầu.
Phân tích chính tại thời điểm sau 12 tháng điều trị chỉ ra rằng những bệnh nhân đã ở mức nguy cơ gãy xương từ trung bình đến cao cho thấy không có giảm mật độ xương (được đánh giá bởi mật độ xương của cột sống thắt lưng băng phương pháp scan DEXA) khi được dùng anastrozole 1 mg/ngày kết hợp với risedronate 35 mg mỗi tuần một lần.
Ngoài ra, ở nhóm nguy cơ thấp được điều trị bằng anastrozole 1 mg/ngày cũng phát hiện có giảm chỉ số BMD nhưng không có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện này đã được phản ánh trong các biến đổi thứ cấp so với ban đầu trong tổng số chỉ số loãng xương tại thời điểm 12 tháng.
Nghiên cứu này chứng minh rằng: các thuốc bisphosphonates có thể được xem xét để kiểm soát việc mất xương ở phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn đầu dự kiến sẽ được điều trị bang Anastrozole.
Nhóm bênh nhân Nhi
Anastrozole không được chỉ định sử dụng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Hiệu quả của thuốc chưa được chứng minh trong các nghiên cứu trên bệnh nhân nhi (xem dưới đây). Số trẻ em được điều trị là quá hạn chế để có thể rút ra bất kỳ kết luận đáng tin cậy nào về độ an toàn. Không có sẵn dữ liệu về tác dụng dài hạn của việc điều trị bằng anastrozole trên trẻ em và thanh thiếu niên.
Giảm chiều cao do thiếu Hormone tăng trưởng
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm đánh giá trên 52 bé trai trong độ tuổi dậy thì (trong độ tuổi 11-16 tuổi) thiếu hormone tăng trưởng được điều trị bằng anastrozole 1 mg/ngày hoặc giả dược kết hợp với hormone tăng trưởng từ 12 đến 36 tháng. Chi có 14 đối tượng dùng anastrozole đủ 36 tháng.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ nhóm dùng giả dược đã được quan sát trong các thông số liên quan đến tăng trưởng chiều cao của người lớn, chiều cao, chiều cao SDS (điểm độ lệch chuẩn) đã được dự đoán trước, và tốc độ cao. số liệu chiều cao cuối cùng là không có sẵn. Trong khi số lượng trẻ em được điều trị là quá hạn chế để có thể rút ra bất kỳ kết luận đáng tin cậy nào về độ an toàn của thuốc, tỷ lệ bị gãy xương tăng và xu hướng giảm mật độ khoáng trong xương ở nhóm dùng anastrozole so với nhóm giả dược.
Dậy thì sớm ở trẻ em trai (testotoxỉcosis)
Trong một nghiên cứu đa trung tâm, mở, không so sánh đánh giá trên 14 bệnh nhân nam (từ 2-9 tuổi) dậy thì sớm (Familial male-limited precocious puberty, FMPP), còn được gọi là testotoxicosis, được điêu trị với sự kêt hợp của anastrozole và bicalutamide. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả và tính an toàn của chế độ kết hợp này trong 12 tháng điều trị. Mười ba trong số 14 bệnh nhân nghiên cứu đã hoàn thành liệu pháp điều trị kết hợp trong 12 tháng (một bệnh nhân bị mất theo dõi). Không có khác biệt đáng kể về tốc độ tăng trưởng sau 12 tháng điều trị so với tốc độ tăng trưởng trong 6 tháng trước khi tham gia vào nghiên cứu này.
Nghiên cứu chứng phái nam có vú nữ.
Thử nghiệm số 0006 là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm tiến hành trên 82 nam thiếu niên dậy thì (trong độ tuổi từ 11-18 tuổi) bị chứng phái nam có vú nữ kéo dài hơn 12 tháng được điều trị bằng anastrozole 1 mg/ngày hoặc giả dược mỗi ngày trong 6 tháng. Không có sự khác biệt đáng kể được quan sát trong nhóm bệnh nhân giảm 50% hoặc cao hơn về tổng khối lượng vú sau 6 tháng điều trị giữa nhóm dùng anastrozole 1 mg và nhóm dùng giả dược.
Thử nghiệm số 0001 là một nghiên cứu dược động học mở, đa liều của anastrozole 1 mg/ngày trên 36 nam thiếu niên dậy thì với chứng phái nam có vú nữ trong thời gian dưới 12 tháng. Mục tiêu thứ yếu để đánh giá tỷ lệ bệnh nhân giảm khối lượng tuyến vú so với ban đầu và của cả hai vú kết họp ít nhất 50% giữa ngày điều trị thứ 1 và sau 6 tháng điều trị, khả năng dung nạp và an toàn của bệnh nhân. Trên 56% (20/36 người) sau 6 tháng điều trị đã ghi nhận giảm 50% hoặc nhiều hơn tổng khối lượng vú.
Nghiên cứu hôi chứng McCune-Albright
Thử nghiệm số 0046 là một thử nghiệm quốc tế, đa trung tâm, thăm dò mở của anastrozole trên 28 bé gái (tuổi từ 2 đến < 10 tuổi) bị hội chứng McCune-Albright (MAS). Mục đích chính là để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của anastrozole 1 mg/ngày trên bệnh nhân MAS. Hiệu quả của nghiên cứu điều trị được dựa trên tỷ lệ bệnh nhân đạt tiêu chuẩn quy định liên quan đến chảy máu âm đạo, độ tuổi xương, và tốc độ tăng trưởng.
Không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về tần số những ngày chảy máu âm đạo trong quá trình điều trị đã được quan sát. Không có sự thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng những thay đổi bất thường về da, kích thước trung bình của trứng, hoặc kích thước trung bình của tử cung. Không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê đối về tỷ lệ tăng độ tuổi xương trong quá trình điều trị so với ban đầu. Tốc độ tăng trưởng (cm/năm) đã giảm đáng kể (p <0,05) từ thời điểm trước điều trị tháng thứ 0 đến 12 tháng, và từ trước khi điều trị đến 6 tháng tiếp theo (từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 12).
Hấp thu
Anastrozole được hấp thu nhanh và đạt nồng độ cực đại trong huyết tương sau 2h
(khi đói).
Thức ăn làm giảm nhẹ tốc độ hấp thu thuốc nhưng không làm giảm mức độ hấp thu. Sự thay đổi nhỏ trong tỷ lệ hấp thu dự kiến sẽ không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đối với nồng độ hằng định trong huyết tương trong thời gian dùng thuốc anastrozole mỗi ngày một lần. Sau 7 ngày, nồng độ hằng định của anastrozole trong huyết tương đạt được khoảng 90 đến 95% và tích lũy được từ 3 đến 4 lần. Không có bằng chứng các thông số dược động học của anastrozole phụ thuộc vào liều hay thời gian.
Đặc tính dược động học anastrozole không phụ thuộc vào tuổi của phụ nữ sau mãn kinh.
Phân bố
Chỉ có 40% anastrozole liên kết với protein huyết tương.
Thải trừ
Anastrozole được thải trừ chậm với thời gian bán thải (T1/2) trong huyết tương từ 40 đến 50 giờ. Anastrozole bị chuyển hóa mạnh ở phụ nữ sau mãn kinh, chỉ ít hơn 10% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng không đổi trong vòng 72 giờ. Chuyển hóa của anastrozole thoogn qua quá trình khử alkyl tại A-d, hydroxyl hóa và gắn vào acid glucuronic. Các chất chuyển hóa được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu. Triazole, chất chuyển hóa chính trong huyết tương, không ức chế men aromatase.
Bệnh nhân suy thận hoặc suy gan
Sau khi uống thuốc, độ thanh thải toàn phần (CL/F) của anastrozole thấp hơn khoảng 30% ở những bệnh nhân xơ gan ổn định so với người tình nguyện (Nghiên cứu so 1033IL/0014). Tuy nhiên, nồng độ anastrozole huyết tương ở các bệnh nhân xơ gan đều nằm trong khoảng nồng độ thường thấy ở người tình nguyện trong các thử nghiệm khác. Nồng độ anastrozole huyết tương trong các thử nghiệm hiệu quả lâu dài ở những bệnh nhân bị suy gan đều nằm trong khoảng nồng độ anastrozole thường thấy trên những bệnh nhân không bị suy gan.
Độ thanh thải toàn phần (CL/F) của anastrozole sau khi uống, không bị thay đổi ở bệnh nhân bị suy thận nặng (GFR <30 ml/phút) trong nghiên cứu 1033IL/0018, phù hợp với thực tế là anastrozole chủ yếu được thải trừ qua quá trình chuyển hóa. Nồng độ anastrozole huyết tương được quan sát trong các thử nghiệm hiệu quả lâu dài ở bệnh nhân suy thận đều nằm trong khoảng nồng độ anastrozole huyết tương thường thấy ở bệnh nhân không suy thận. Ở những bệnh nhân suy thận nặng, việc dùng thuốc anastrozole nên được thực hiện một cách thận trọng.
Nhóm bệnh nhân Nhi
Những bé trai có hội chứng phái nam có vú nữ trong độ tuổi dậy thì (10-17 tuổi), anastrozole được hấp thu nhanh, được phân bố rộng rãi, và được thải trừ chậm với thời gian bán thải (TI/2) khoảng 2 ngày. Độ thanh thải anastrozole ở các bé gái (3-10 tuôi) thấp hơn so với các bé trai và phơi nhiễm cao hơn. Anastrozole phân bố rộng rãi và thải trừ chậm ở các bé gái.
DỮ LIỆU AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Đôc tính cấp:
Các nghiên cứu độc tính cấp ở động vật gặm nhấm chỉ ra liều gây chết trung bình của anastrozol lớn hơn 100 mg/kg/ngày dùng đường uống và lớn hơn 50 mg/kg/ngày nếu tiêm trong ổ bụng. Liều gây chết trung bình đối với chó bằng đường uống là trên 45 mg/kg/ngày.
Độc tính mãn:
Độc tính đa liều đã được nghiên cứu ở chuột và chó. Các tác dụng đã được quan sát ở liều thấp (1 mg/kg/ngày) và liều vừa phải (3 mg/kg/ngày cho chó và 5 mg/kg/ngày cho chuột cống) có liên quan đến hoặc là đặc tính dược lý hoặc đặc điểm gây ra bởi enzyme của anastrozol và không kèm theo độc tính hoặc thoái hoá đáng kể.
Tính gây đột biến:
Các nghiên cứu độc tính di truyền với anastrozol cho thấy thuốc không phải là tác nhân gây đột biến hay phân đoạn nhiễm sắc thể.
Độc tính vói hệ sinh sản:
Ở chuột và thỏ đang mang thai, liều uống anastrozol tương ứng lên tới 1,0 và 0,2 mg/kg/ngày không gây quái thai. Những ảnh hưởng mà người ta có thể thấy được (nhau bám rộng ở chuột, suy thai ở thỏ) đều liên quan đến dược lý của hợp chất này.
Khả năng sống sót giảm ở những lứa chuột được sinh ra bởi những chuột mẹ dùng anastrozol ở liều > 0,02 mg/kg/ngày (kể từ ngày 17 của thai kỳ đến ngày 22 sau khi sinh). Những tác động này liên quan đến tác động dược lý của hợp chất này lên quá trình sinh sản. Không có tác dụng ngoại ý nào trên hành vi và khả năng sinh sản của thế hệ con đầu tiên có mẹ sử dụng anastrozol.
Khả năng gây ung thư:
Một nghiên cứu khả năng gây ung thư ở chuột cống lớn 2 tuổi cho thấy kết quả gia tăng tỷ lệ u gan và polyp lớp đệm tử cung ở chuột cái và u tuyến giáp ở chuột đực với liều cao (25 mg/kg/ngày). Những thay đổi này xảy ra với liều cao hơn 100 lần liều điều trị ở người và được cho là không liên quan về lâm sàng đổi với bệnh nhân điều trị anastrozol.
Nghiên cứu khả năng gây ung thư trên chuột nhắt 2 tuổi cho thấy anastrozol gây u lành tính ở buồng trứng và thay đổi về tần suất u mô ở hệ lưới bạch huyết ( sarcoma mô bào ở chuột cái ít hơn nhưng tăng tỷ lệ chết do u lympho). Những thay đổi này là do các tác dụng ức chế aromatase đặc hiệu ờ chuột nhắt và không liên quan về mặt lâm sàng với bệnh nhân điều trị với anastrozol.
VICTANS được bào chế dưới dạng viên nén bao phim, bao bên ngoài là hộp giấy cartoen màu trắng + vàng. Tên sản phẩm màu đỏ, phía dưới góc tay trái in công ty sản xuất sản phẩm. 2 bên in thành phần, công ty sản xuất sản phẩm.
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 2 vỉ x 14 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
VICTANS có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thân Thiện.
VICTANS có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VD-27032-17
Công ty cổ phần dược phẩm Sao Kim
KCN Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội Việt Nam
Việt Nam.
Không hiển thị thông báo này lần sau.