Đỗ Trọng là gì?

Đỗ trọng thuộc dạng cây thân gỗ, sống được lâu năm và là một trong những cây thuốc quý được sử dụng nhiều trong đông y. Cây có chiều cao trung bình từ 15 đến 20cm, đường kính trung bình từ 33 đến 50cm, cành cây mọc chếch, tán cây hình tròn. Vỏ thân và lá có nhựa mủ màu trắng, vỏ có màu xám, khi bẻ đôi sẽ thấy những sợ nhựa trắng mảnh như tơ nối giữa các mảnh vỏ.

Lá mọc so le, hình tròn trứng, phía cuống hình bầu dục hay hình thùy, đuôi lá nhọn, lá xanh có răng cưa. Mặt lá nhẵn bóng, màu xanh đậm, bóng láng, mặt trái lá non có lông tơ, lúc gìa thì nhẵn bóng không còn lông, có vân vằn, cuống lá có rãnh,không có lá bắc. Hoa thường ra trước lá hay hoa và lá cùng ra một lúc với hoa, hoa đực có cuống, mọc thành chùm, dùng để làm làm thuốc. Hoa cái do hai nhi cái hợp thành, một tâm bì, đầu quả nứt đôi. Quả có cánh mỏng dẹt, ở giữa hơi lồi, trong có một hạt. Hạt dẹt, hai đầu tròn, có thể dùng làm giống. Hoa thường ra vào tháng 3-5 và quả ra vào tháng 7-9.

Đỗ trọng có tên khoa học là Eucommia ulmoides Oliv thuộc họ Đỗ Trọng (Eucommiaceae) và được biết với những cái tên khác như Tư trọng, ty liên bì, mộc miên.

Phân bố:

Đỗ trọng đã di thực vào trồng ở Việt Nam, nhưng chưa phát triển mạnh. Trung Quốc có trồng nhiều loại cây này.

Đỗ trọng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Đỗ trọng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận dùng:

Phần được sử dụng làm thuốc là phần vỏ (Cortex Eucommiae). Vỏ cây dày, ít sù sì, sắc nâu đen, bẻ ra thấy nhiều tơ trắng, dai, óng ánh là tốt.

Thành phần hóa học có trong cây đỗ trọng:

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra, thành phần hóa học có trong cây đỗ trọng bao gồm những chất chính như: Vỏ cây chứa gutta-pereha, còn có pino-resinol-diglucosid, geniposid, acid geniposidic, ulmoprenol, acid chlorogenic, aucubin, loganin, chất màu, albumin chất béo, tinh dầu và muối vô cơ.

Những nghiên cứu khoa học về công dụng của đỗ trọng:

Sắc nước và cồn chiết xuất thuốc đều có tác dụng hạ áp, nước sắc tác dụng mạnh hơn, nước sắc Đỗ trọng sao tốt hơn nước sắc Đỗ trọng sống. Cơ chế tác dụng chủ yếu do thuốc trực tiếp làm thư gĩan cơ trơn của mạch máu.

Thuốc làm tăng tính miễn dịch của cơ thể. Thực nghiệm chứng minh thuốc có tác dụng điều chỉnh chức năng của tế bào. Lá, cành, vỏ tái sinh của Đỗ trọng đều có tác dụng như nhau.

Nước sắc và cồn chiết xuất Đỗ trọng có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của thỏ và chuột lớn, làm cho tử cung cô lập của mèo thì tác dụng hưng phấn lại rất nhẹ.

Thuốc sắc có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau đối với tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ Flexner, trực khuẩnColi, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết B.

Theo đông y:

Đỗ trọng có vị ngọt, hơi cay, tính ôn, quy vào kinh can, thận. Tác dụng giúp bổ trung, ích tinh khí, kiện cân cốt, giúp hạ áp, hạ cholesterol, giãn mạch, kháng viêm, chống co giật, giảm đau, cầm máu, lợi tiểu, ôn thận, tráng dương, mạnh gân cốt, an thai, nhuận can táo, bổ can hư.

Công dụng của đỗ trọng:

  • Giúp hỗ trợ hạ huyết áp và hỗ trợ làm hạ cholesterol trong máu.
  • Làm giãn mạch, kháng viêm, chống co giật, giảm đau, cầm máu, lợi tiểu.
  • Giúp ôn thận, tráng dương, mạnh gân cốt, an thai, nhuận can táo và bổ can hư.
  • Hỗ trợ trị thận hư, trị hai bên thăn lưng đau, liệt dương.
  • Hỗ trợ trị rong kinh, đau đầu, chóng mặt do thận hư.
  • Hỗ trợ giúp dưỡng thai, dùng trong trường hợp thai động, trụy thai.
  • Hỗ trợ giúp tăng cường hệ miễn dịch cơ thể.

Một số bài thuốc từ cây đỗ trọng:

Trị mồ hôi trộm sau khi bị bệnh, chảy nước mắt sống:

Đỗ trọng, Mẫu lệ, 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 20g với nước lúc ngủ.

Trị phong lạnh làm thương tổn thận, gây đau thắt lưng, đau cột sống do hư:

Đỗ trọng 640g, xắt, sao với 2 thăng rượu, ngâm trong 10 ngày, ngày uống 3 lần.

Trị có thai 2 – 3 tháng mà bị động thai, ngang lưng đau như sáp sẩy thai:

Đỗ trọng (tẩm nước Gừng, sao cho đứt tơ), Xuyên tục đoạn (tẩm rượu). Tán bột. Dùng nhục Táo nẫu kỹ lấy nước trộn thuốc bột làm thành viên, uống với nước cơm.

Trị thắt lưng đau do thận hư:

Đỗ trọng bỏ vỏ, sao vàng với sữa tô 1 cân, chia làm 10 thang, Mỗi đêm lấy 1 thang ngâm với 1 thăng nước cho tới canh năm, sắc còn 3 phần, giảm còn 1, lấy nước, bỏ bã, rồi lấy 3 – 4 cái thận dê, xắt lát bỏ vào sắc tiếp, bỏ tiêu muối vào như nấu canh uống lúc đói.

Trị quen hư thai, hoặc có thai cứ tới 4 – 5 tháng là hư:

Trước có thai 2 tháng, lấy 320g Đỗ trọng, Lấy gạo nếp sắc lấy nước ngâm Đỗ trọng cho thấm rồi sao cho hết tơ, dùng 80g Tục đoạn tẩm rượu sấy khô, tán bột, lấy Sơn dược 200-240g, tán bột làm hồ, rồi viên với các thứthuốc trên, to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống 5- a0 viên lúc đói.

Trị các loại bệnh sau khi sinh (sản hậu) hoặc thai không yên:

Đỗ trọng bỏ vỏ thô ngoài, để trên tấm ngói sấy khô, bỏ vào cối gỗ,gĩa nát, nấu Táo nhục cho thật nhừ,trộn thuốc bột làm viên to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống l viên với nước cơm, ngày 2 lần.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

Không phải Can Thận hư hoặc âm hư hỏa vượng: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Âm hư có nhiệt: dùng thận trọng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

0/5 (0 Reviews)
Chia sẻ tới mọi người