Triệu chứng thường gặp ở hệ tuần hoàn:

Các bệnh về tuần hoàn bao gồm tim và các mạch máu, có nhiều triệu chứng chức năng. Những dấu hiệu chức năng chính thường gặp là:

Khó thở

Là dấu hiệu thường gặp, bao giờ cũng có và có sớm. Tùy theo nguyên nhân và giai đoạn của suy tim, khó thở có nhiều mức độ và hình thái khác nhau.

Có 3 giai đoạn khó thở:

Khó thở khi gắng sức:

Người bệnh không cảm thấy khó chịu, chỉ khi gắng sức mới khó thở: mang xách nặng, chạy vội, lên thang gác… khó thở càng rõ khi cố gắng càng nhiều.

Khó thở thường xuyên:

Luôn cả thấy khó thở, khi nằm càng khó thở, phải ngồi dậy để dễ thở hơn. Tư thế bệnh nhân luôn phải ngồi dựa vào tường vào ghế, có khi nằm phủ phục.

Nghỉ ngơi cũng khó thở, khi vận động khó thở càng tăng hơn.

Khó thở xuất hiện từng cơn:

Khi suy tim cấp, đưa đến những cơn khó thở đột ngột như:

Cơn hen tim: Người bệnh như nghẹt thở, thở nhanh, nông, tim đập nhanh – khám không có dấu hiệu về hen phế quản mà có dấu hiệu suy tim trái.

Phù phổi cấp: Khó thở đột ngột, dữ dội, đau tức ngực, phải ngồi dậy để thở, khạc ra nhiều bọt màu hồng – khám có dấu hiệu suy tim trái.

Hướng dẫn cách Thăm khám hệ tuần hoàn
Hướng dẫn cách Thăm khám hệ tuần hoàn

Đánh trống ngực

Cảm giác tim đập mạnh. Trống ngực là do thay đổi nhịp tim nhanh, chậm, ngoại tâm thu, bệnh nhân cảm thấy tim đập rộn ràng, lúc đều, lúc không làm cho sợ hãi, lo lắng, nghẹt thở. Gặp trong các bệnh tim: bệnh van tim, cơ tim, bệnh tăng huyết áp, cường tuyến giáp.v.v…

Cảm giác đánh trống ngực hết, khi nhịp tim trở lại bình thường.

Đau vùng trước tim

Có khi đâu âm ỉ, có khi đau nhói ở vùng mỏm tim, có khi sờ vào cũng thấy đau; đau có thể ở bên ngực trái hoặc lan lên vai rồi xuống cánh tay; cẳng tay và các ngón tay. Gặp trong các bệnh: cơn đau thắt ngực do co thắt động mạch vành, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim.

Ho và khạc ra máu

Trong bệnh hẹp lỗ van 2 lá máu ứ ở phổi, khi bệnh nhân gắng sức, phổi bị xung huyết, đưa đến ho ra máu; thường lượng máu ra ít một và nghỉ ngơi thì bớt đi.

Trong phù phổi cấp, bệnh nhân khạc ra bọt  màu hồng, kèm theo hốt hoảng đau ngực, khó thở nhiều.

Phù

Phù tim thường bắt đầu ở vùng thấp trước, thường là một dấu hiệu chậm, khả năng bù của tim đã giảm và có máu ứ ở ngoại biên. Lúc đầu, phù tim xuất hiện thường về buổi chiều rõ hơn: phù hai mắt cá chân, mu bàn chân, nằm nghỉ ngơi thì giảm hoặc hết phù, nhưng dấu hiệu suy tim vẫn còn (gan to, tĩnh mạch cổ nổi). Trong suy tim nặng thì phù toàn thân hoặc ứ đọng trong các màng bụng, màng phổi.

Dấu hiệu xanh tím

Phản ánh tình trạng thiếu ôxy, màu sắc da và viêm mạc bệnh nhân có thể xanh tím xảy ra lúc đầu ở môi, móng tay, móng chân, sau khi làm việc nặng; về sau dấu hiệu xanh tím có thể xuất hiện toàn thân. Một số bệnh tim bẩm sinh cũng gây dấu hiệu xanh tím như bệnh Fallot 4 v.v…

Ngất

 Là tình trạng mất tri giác và cảm giác trong thời gian ngắn, đồng thời giảm rõ rệt hoạt động tuần hoàn và hô hấp trong thời gian đó.

Ngất thường xảy ra đột ngột, trước đó người bệnh cảm thấy chóng mặt hoa mắt, toát mồ hôi rồi ngã xuống, không còn biết gì nữa.

Khám thấy: Mặt nhợt nhạt, chân tay bất động, thở yếu hoặc ngừng thở, tiếng tim nhẹ hoặc ngừng đập, mạch sờ không thấy. Nếu không cứu chữa kịp có thể tử vong.

Các triệu chứng khác

Mệt: không phải là đặc hiệu của bệnh tim mạch, song có ý nghĩa khi xảy ra ở một bệnh nhân tim mạch. Do giảm cung lượng tim là cơ lực giảm sút.    

Đái ít: thường xảy ra ở người suy tim, dịch ứ trệ gây phù.

Tê các ngón: do rối loạn chức năng trong bệnh của động mạch, làm co thắt mạch máu ở các ngón. Nếu đi xa, có cảm giác chuột rút ở bắp chân, đau bắp chân, phải xoa bóp cho đỡ đau.

Khám thực thể hệ tuần hoàn

Khám thực thể hệ tuần hoàn là khám theo trình tự một cách hệ thống tim mạch và các bộ phận có liên quan, từ đó có thể biết được các bệnh do tim mạch gây ra và các cơ quan khác ảnh hưởng tới tim mạch như thế nào.

Khám toàn thân

Thể trạng:

  • Thể trạng gầy, béo, cân nặng.
  • Màu sắc da, niêm mạc: tím tái, xanh nhợt, vàng…
  • Phù: mức độ vị trí phù hoặc không phù.
  • Tuyến giáp: tuyến giáp to, có rung miu, có tiếng phổi, gặp trong bệnh Basedow.

Các mạch máu:

Tĩnh mạch cảnh (cổ): là biểu hiện ra ngoại biên của áp lực trong các buồng tim phải. Trong suy tim, tĩnh mạch cảnh nổi rõ nhất.

Nghiệm pháp phản hồi gan – tĩnh mạch cổ: Để bệnh nhân nằm quay mặt sang trái, thở đều – thầy thuốc đặt bàn tay áp lên vùng hạ sườn phải. Bình thường tĩnh mạch cảnh chỉ nổi lên chút ít rồi trở lại như cũ; khi có suy tim phải thì tĩnh mạch cảnh nổi to lên trong suốt thời gian làm nghiệm pháp.

Động mạch cảnh: Đập mạnh và chìm sâu trong hở van động mạch chủ (mạch Corigăng).

Đo huyết áp động mạch và huyết áp tĩnh mạch.

Các chi và móng ngón:

Phát hiện móng chân, móng tay dùi trống trong suy tim, trong một số bệnh tim bẩm sinh; thay đổi hình dạng móng tay khum vồng lên như mặt kính đồng hồ trong một số bệnh về tim mạch; có thể gặp chín mé trong viêm tắc động mạch đầu ngón tay, trong viêm màng trong tim nhiễm khuẩn.

Khám tim

Tư thế người bệnh: Nằm ngửa, cởi bỏ áo vùng ngực, thở đều, tư thế nghỉ ngơi, thoải mái. Người thầy thuốc ngồi bên trái người bệnh.

Khám theo trình tự: Nhìn, sờ, gõ, nghe.

Nhìn:

Quan sát lồng ngực, vùng đập tim của tim:

Mỏm tim: Bình thường, mỏm tim đập ở khoảng liên sườn 4 trái, trên đường qua giữa xương đòn trái. Khi thất trái giãn to, mỏm tim đập ở dưới thấp, khoảng liên sườn 5 hoặc 6 chếch ra phía đường nách trước.

Lồng ngực: Bình thường đập đều đặn, hai bên cân bằng. Nếu người bệnh đã có tim to từ nhỏ, lồng ngực có thể bị biến dạng, nhô ra phía trước. Trong bệnh tâm phế mạn tính, lồng ngực cũng có thể lệch, vẹo.

Sờ:

Sờ vùng trước tim, bàn tay thầy thuốc áp lên thành ngực, xác định vị trí và mỏm tim đập. Trong bệnh hẹp van 2 lá, có thể sờ thấy rung miu tâm trương; trong bệnh hở van 2 lá có thể thấy rung miu tâm thu; trong bệnh còn ống động mạch sẽ thấy rung miu liên tục, mạnh vào cuối tâm thu.

Gõ:

Gõ tim để xác định vị trí và kích thước tim trên lồng ngực. Gõ từ phía trên xuống phía dưới, từ ngoài vào trong: từ khoảng liên sườn 2 trái, lần lượt xuống phía dưới, từ đường nách trước vào phía xương ức, tìm giới hạn vùng đục tương đối và tuyệt đối. Bình thường diện đục bên phải lồng ngực không quá bờ phải xương ức và diện đục bên trái không vượt quá xương đòn trái.

Nghe:

Nghe tim là phần quan trọng nhất trong việc khám tim vì nó cung cấp nhiều triệu chứng có giá trị chẩn đoán.

Cách nghe tim: Dùng ống nghe có loa nghe, loại màng trống

Nghe tim ở 3 tư thế: Bệnh nhân nằm ngửa, nằm nghiêng trái, ngồi hoặc đứng.

Một số biện pháp có thể làm khi cần như: Nghiệm pháp gắng sức: chạy tại chỗ, bảo bệnh nhân nhịn thở để phân biệt tiếng cọ màng tim hay tiếng cọ màng phổi…

Nghe ở các ổ tim:

Có 4 ổ van tim chính:

  • Ổ van hai lá: Vị trí mỏm tim, ở kẽ liên sườn 4-5, trên đường giữa xương đòn trái.
  • Ổ van ba lá: Ở vùng sụn sườn thứ 6, sát bờ trái mũi ức.
  • Ổ van động mạch chủ: Ở kẽ liên sườn 2 bên phải, cách bờ phải xương ức 1,5cm.
  • Ổ van động mạch phổi: Ở kẽ liên sườn 2 bên trái, cách bờ trái xương ức 1,5cm.
  • Ngoài ra, còn có ổ Frb – Botkin ở liên sườn 3 trái, cách bờ trái xương ức 3cm.

Tiếng tim bình thường:

Mỗi chu chuyển tim có 2 tiếng: T1 và T2.

Tiếng thứ nhất – T1: Trầm, dài “bùm” nghe đồng thời với lúc mạch đập – sau đó là im lặng ngắn.

Tiếng thứ hai – T2: Ngắn, thanh “tặc” đồng thời với lúc mạch chìm, sau đó là im lặng dài.

T1 nghe rõ ở mỏi tim, T2 nghe rõ ở đáy tim.

Khi nghe tim, chú ý đến các yếu tố cường độ và nhịp điệu của tim. Trong sinh lý bình thường, tiếng tim nghe rõ, cường độ tim đập mạnh khi gắng sức, khi hồi hộp xúc động: khi chơi thể thao, nhịp tim đập nhanh hơn, nhưng vẫn đều đặn. Khi nghỉ ngơi tiếng tim trở lại bình thường.

Các dấu hiệu bệnh lý:

Tiếng T1 và T2 thay đổi về cường độ và nhịp điệu, gặp trong các bệnh sau:

  • Cả 2 tiếng đều yếu: gặp trong suy tim, viêm cơ tim, tràn dịch màng ngoài tim, viêm màng trong tim.
  • T1 ở mỏm tim mạnh hơn bình thường: gặp trong bệnh hẹp van hai lá.
  • T2 ở đáy tim, nghe mảnh ở ổ động mạch chủ: gặp trong bệnh tăng huyết áp.
  • T1 và T2 cường độ bằng nhau và biên độ bằng nhau gọi là nhịp tim thai, phản ánh một tình trạng suy tim nặng, tiên lượng xấu.
  • Tiếng ngựa phi: tim nhịp 3 đặc biệt, sinh ra do suy thất trái (rõ ở mỏm tim), hoặc suy thất phải (ở cạnh mũi ức) biểu hiện suy cơ tim nặng.

Các tiếng thổi ở tim:

Tiếng thổi xuất hiện trong dòng máu xoáy mạnh và theo thời gian di chuyển sang một chu chuyển tim, ra có 2 loại tiếng thổi:

Tiếng thổi tâm thu: lúc tim co bóp. Tiếng thổi tâm trương: lúc tim giãn nghỉ.

Muốn phân biệt 2 loại tiếng thổi dựa vào:

  • Mạch: Tiếng thổi cùng một lúc với mạch đập là tiếng thổi tâm thu, nếu sau mạch là tiếng thổi tâm trương.
  • Tiếng tim: Nếu tiếng thổi thay thế hoặc tiếp theo ngay sau T1 là tiếng thổi tâm thu, nếu thay thế hoặc ngay sau T2 là tiếng thổi tâm trương.

Khi xuất hiện tiếng thổi ở tim, cần nói rõ các tính chất sau đây của một tiếng thổi:

  • Ở thì nào (tâm thu hay tâm trương)
  • Nghe rõ nhất ở ổ van nào?
  • Hướng lan truyền của tiếng thổi
  • Tiếng thổi thay đổi như thế nào khi bệnh nhân thay đổi tư thế
  • Âm sắc (êm dịu, ráp, phụt mạnh).

Tùy theo có thương tổn hay không có thương tổn ở van tim, người ta chia tiếng thổi ra:

  • Tiếng thổi thực tổn: Các van tim bị hở hoặc hẹp như trong bệnh hở van hai lá, hở van động mạch chủ.
  • Tiếng thổi chức năng: Tiếng thổi do các lỗ van rộng ra mà không có tổn thương, do tim giãn ra, như trong bệnh thiếu máu.

Tiếng thổi tâm thu có thể là thực tổn, gặp trong các bệnh hẹp, hở lỗ van tim hoặc là chức năng trong các bệnh như thiếu máu. Còn tiếng thổi tâm trương luôn luôn là một tiếng thổi thực tổn.

Các tiếng bất thường khác:

Clac mở van hai lá: Gặp trong bệnh hẹp van 2 lá xuất hiện đầu thời kỳ tâm trương, nghe gọn, đanh, rõ nhất ở vùng mỏm tim. Tiếng Clac mở là do áp lực nhĩ trái cao, làm mở van hai lá đã có tổn thương xơ dính cũ.

Tiếng rung tâm trương: Là dấu hiệu quan trọng trong hẹp van 2 lá – nghe rõ ở mỏm tim, nghe như tiếng vê dùi trống; không đều, thô và mạnh, tiếng rung tâm trương thường xảy ra sau T2, sau tiếng Clac mở van 2 lá.

Tiếng cọ màng ngoài tim: Nghe thô như hai miếng da cọ vào nhau, nghe thấy ở giữa tim không lan. Thường gặp trong viêm màng ngoài tim.

Phương pháp khám hệ tuần hoàn (cận lâm sàng)

X.quang tim mạch

Chiếu – chụp (chụp các tư thế thẳng, chếch phải trước, chếch trái trước và nghiêng 900). Chụp thường hoặc chụp có kèm theo uống thuốc cản quan qua thực quản. Mục đích để phát hiện hình ảnh X.quang tim mạch bình thường hoặc bất thường.

Hình ảnh X.quang tim mạch bình thường tư thế thẳng:

Bên tim phải có 2 cung:

  1. Cung trên: tĩnh mạch chủ trên
  2. Cung dưới: nhĩ phải.

Bên tim trái có 3 cung:

  1. Cung trên: quai động mạch chủ
  2. Cung giữa: thân động mạch chủ
  3. Cung dưới: thất trái.

Tư thế chếch phải trước:

Phần tiếp xúc với cơ hoành là thất phải.

Điểm D: điểm gặp giữa tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải.

Điểm D’: điểm gặp giữa nhĩ phải và cơ hoành

Điểm G: điểm gặp giữa động mạch phổi và thất trái

Điểm G’: điểm gặp giữa thất trái và cơ hoành.

Trong trường hợp bệnh lý hẹp hở van tim, hình ảnh các cung tim đều thay đổi.

Điện tâm đồ:

Hiện nay đã trở thành một trong những thăm dò cơ bản về tim mạch, giúp cho thầy thuốc lâm sàng trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh về tim mạch: các bệnh van tim, loạn nhịp, bệnh động mạch vành…

Siêu âm tim

Là một phương pháp thăm dò, cho thấy rõ hình thái và hoạt động của tim, cũng như các mạch máu lớn có liên quan đến tim.

Ngoài ra còn có các phương pháp cận lâm sàng khác.

Tâm thanh cơ đồng đồ:

Đường ghi các tiếng tim và hoạt động co giãn tim và các mạch máu lớn.

Phương pháp thông tim huyết động:

Để giúp chẩn đoán và điều trị các bệnh về tim và mạch máu trong các bệnh viện chuyên khoa.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người