Cây Bồ đề là gì?

Cây Bồ đề hay còn gọi là Cây giác ngộ, cây đề, hu món (tiếng Tày), Assattha (tiếng Pali), cây Bo, hoặc Pipul,… . Tên khoa học là Ficus religiosa, thuộc Họ Dâu tằm Moraceae.

Cây Bồ đề là cây gỗ lớn cao 20m, vỏ xám, láng cành tròn, màu nâu, mặt trước có lông sau nhẵn. Lá mọc đối có cuống, gân lá hình lông chim. Phiến lá hình trứng hay hình mác, mặt trên nhẵn, xanh nhạt, mặt dưới trắng có lông sao, có 5 – 7 đôi gân phụ, nối rõ ở mặt dưới. Hoa xếp thành ngù, mọc ở nách và ngọn, cso mùi thơm nhẹ. Tràng hợp thành ống 5 thùy xếp lợp, có lông tơ vàng. Nhị 10. Quả hình trứng có lông sao, phía dưới mang đài tồn tại. Ra hoa tháng 5 – 6. Quả chín tháng 9 – 10.

Cây Bồ đề, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Bồ đề, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Phân bố:

Bồ đề có nguồn gốc từ vùng đất láng giềng Trung Quốc, mãi sau này nó mới du nhập sang nước ta và được người dân đưa về trồng tại nhà tiện cho việc thu hái. Thường được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc như Phú Thọ, Lai Châu, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang,… .

Ngoài ra, Cây Bồ đề còn được trồng nhiều ở các đình, miếu, chùa,… mang một ý nghĩa thiêng liêng.

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Nhựa của cây Bồ đề (Benzoinum) lấy nhựa từ cây bị tổn thương hoặc vào mùa hạ, mùa thu, rạch thân cây thu lấy nhựa chảy ra, phơi âm can đến khô.

Nhựa là những cục rời nhau, màu trắng, vàng hạt hoặc đỏ nhạt, đục dễ bẻ, vạch móng tay được. Vết bẻ trông như sáp, màu trắng nhạt, để lâu thành màu nâu. Có mùi vani đặc biệt. Vị dịu sau cay và hăng.

Thành phần hóa học:

Nhựa Bồ đề gồm hơn 50 loại hợp chất, trong đó: Acid benzonic tự do; Acid cinnamic tự do; Vanillin; Benzyl benzoate; Cinnamyl cinnamat; Benzyl cinnamat; Alcol coniferilic; Acid siaresinolic;… .

Tác dụng – công dụng chung của cây Bồ đề:

Chữa ho, long đờm, chữa trúng hàn người lạnh toát.

Dung dịch cánh kiến trắng trong cồn dùng làm thuốc xông chữa ho, khản cổ, hoặc pha với nước bôi ngaofi chữa cú nứt nẻ.

Theo đông y:

Bồ đề có vị cay, đắng, tính bình, không độc có tác dụng an thần, hành khí, khai khiết, làm se, trừ tà khí và hoạt huyết. Chủ trị bệnh viêm phế quản mạn tính, thổ tả, hôn mê, đau bụng, trùng phong, làm lành vết thương và trị nẻ vú,… .

Dùng với liều từ 0,5 – 2g/ngày dùng dưới dạng thuốc sắc, làm siro hay tán thành bột mịn. Thường phối với các vị thuốc khác.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Bồ đề:

Hiện chưa có nghiên cứu nào về cây Bồ đề.

Một số bài thuốc có cây Bồ đề:

Tẩy trùng vết thương, ngăn ngừa viêm nhiễm:

Hái lấy chồi non của cây bồ đề, rửa sạch, giã nát và vắt lấy nước cốt. Sau đó, dùng bông gòn hoặc tăm bông chấm lấy và thoa đều lên miệng vết thương.

Điều trị đau bụng, trúng phong, thổ tả và hôn mê:

Cân lấy khoảng 2 – 3g nhựa cây Bồ đề, cho vào sắc để nhỏ lửa cho đến khi tan chảy hoàn toàn. Chia đều làm 2 và uống trong ngày.

Chữa cấm khẩu, huyết vận hoặc huyết trướng ở phụ nữ sau sinh:

4 gram nhựa cây Bồ đề + 20 gram thủy phi. Đi tán thành bột mịn rồi trộn đều. Sắc một chút nước gừng, pha 4 gram bột trên vào rồi uống.

Chữa bệnh viêm phế quản mạn tính:

5 gram nhựa cây Bồ đề đem tán thành bột mịn. Sau đó hòa với ít rượu, khuấy đều cho tan rồi trộn thêm 100 ml siro và lắc đều. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần sử dụng 10 – 20 gram.

Chữa chứng tim bỗng nhiên đập nhanh, đau hoặc hồi hộp:

Nhựa cây Bồ đề đem nghiền thành bột mịn. Mỗi ngày hòa tan 2 gram với nước sôi và uống.

Giúp làm lành vết thương, chữa viêm chân quanh răng và nẻ vú:

Cho 20 gram nhựa cây bồ đề khô vào bình thủy tinh và đổ 100 gram cồn 80 độ, đảm bảo dược liệu đã ngập trong cồn. Đậy kín ngâm từ 10 – 15 ngày là có thể sử dụng. Sau khi vệ sinh vùng da bị tổn thương, sử dụng bông gòn thấm hỗn hợp và thoa đều.

Cách dùng: Mỗi ngày thoa 3 lần, đảm bảo sử dụng liên tục và thường xuyên giúp làm lành vết loét và cải thiện tình trạng viêm trên da. Đối với bệnh viêm quanh chân răng, chỉ cần ngậm nước thuốc trong miệng từ 5 – 7 phút mỗi ngày, giúp giảm đau và sưng viêm.

Chữa tức ngực, đau bụng do đầy hơi:

Trầm hương và đinh hương, mỗi vị cân lấy 6 gram + cánh kiến trắng, đại hồi, hoắc hương, hương phụ, sa nhân, mộc hương và cam thảo, mỗi vị 9 gram. Cho tất cả các dược liệu trên đem tán nhuyễn thành bột mịn, thêm một lượng mật ong vừa đủ. Mỗi lần lấy 3 – 4 gram uống chung với nước sắc lá tía tô.

Chữa đau nhức xương khớp:

80 gram nhựa cây Bồ đề đun nóng đến khi chuyển sang thể lỏng rồi đem trộn với 160 gram thịt heo nạc đã được thái miếng mỏng. Sau đó cho thịt vào ống tre, đặt lên bếp lửa lớn. Đặt miệng ống hướng về phía khớp xương đau để hơi nóng bốc lên giúp xoa dịu khớp.

Trị chứng lãnh khí, hàn thấp hoặc hoắc loạn thế âm:

Cân lấy 4 gram nhựa cây bồ đề + nhân sâm và phụ tử mỗi vị 8 gram. Mỗi ngày 1 thang, uống cho đến khi triệu chứng bệnh thuyên giảm.

Giảm đau nhức răng:

Hái một nắm lá cây bồ đề rửa sạch, giã nát và vắt lấy nước cốt. Dùng nước này ngâm hoặc súc miệng giúp giảm đau nhức.

Trị ho và đẩy lùi triệu chứng ngứa ngáy ở vòm họng.:

0.5 gram nhựa cây bồ đề mài trộn cùng với một lượng mật ong vửa đủ rồi uống. Mỗi ngày uống 2 – 4 lần.

Lưu ý:

  • Không dùng đối với trường hợp: người mắc bệnh âm hư hoảng vượng, có khí hư, người ăn ít hoặc chán ăn, người bị dị ứng với hoạt chất có trong nhựa cây bồ đề, người không có bệnh,… .
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây cau!

Chia sẻ tới mọi người