Cây Cau là gì?

Cây Cau còn có tên gọi khác là Câu đằng, thuần câu câu, Vuốt lá mỏ,  Dây móc câu – Cú giằng (Mông); Co nam kho (Thái); Pược cận (Tày). Tên khoa học là Areca catechu, thuộc họ Cau (tên danh pháp khoa học là Arecaceae).

Thân cột cao 10 – 15 m, có nhiều vòng sẹo. Lá to xẻ lông chim, tập trung ở ngọn, có bẹ rộng ôm lấy thân cây. Cụm hoa mọc thành buồng mầu trắng ngà, ngoài có mo bao bọc, mo rụng khi hoa nở. Qủa hạch hình trứng lúc chín có màu vàng đỏ. Hạt màu nâu cánh gián. Cây đucợ trồng khắp nơi để lấy quả ăn trầu và làm thuốc.

Cây Cau, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Cau, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Phân bố:

Đây là giống cây tự nhiên, chưa được trồng, thường được bắt gặp ở các tỉnh miền núi hay các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng.

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Hạt đã phơi khô hay sấy khô, lấy từ quả chín của cây Cau (Semen Arecae catechi).

Thành phần hóa học:

Hạt có chứa alcaloid là arecolin, arecaidin, guvacin; có tanin là catechin (hạt non nhiều tanin hơn hạt già), lipit gồm laurin, olein, myristin; glucid và muối vô cơ.

Tác dụng – công dụng chung của cây Cau:

Dùng trừ giun sán, chữa sốt rét, chữa tiểu bí, buốt rắt, bụng đầy trướng, đại tiện táo kết.

Theo đông y:

Theo đông y, hạt cau (binh lang, tân lang nhân, đại phúc tử) vị cay đắng chát, tính ấm. Vào 2 kinh đại tràng và vị. Công dụng giáng khí, phá trệ, sát trùng, thông thủy.  Trị giun sán, ăn uống tích trệ gây đau bụng, cước khí do sơn lam chướng khí và dịch lệ, đi lị, phù thũng.

Dùng với liều từ 8 – 24 g/ngày, dùng dưới dạng thuốc sắc.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Cau:

Nước sắc, cao nấu hay ngay cả nước triết ra từ cây Câu đằng đều có tác dụng hạ áp hòa hoãn và kéo dài đây đều nhờ vào chất kiềm có trong Câu đằng. Nguyên lý hạ áp chủ yếu là thuốc trực tiếp tác dụng và phản xạ tác dụng ức chế trung khu thần kinh vận mạch gây chẹn lên nút thần kinh giao cảm, làm giãn mạch ngoại vi từ đó gây nên lực cản giảm và hạ áp. Nếu đun sôi quá 20 phút tác dụng hạ áp giảm cho nên không nên đun lâu.

Nước sắc từ cây Câu đằng và chiết xuất cồn khi thực nghiệm trên súc vật thì đều có tác dụng an thần rõ nhưng không gây ngủ. Cao ngâm rượu của thuốc có tác dụng chống co giật trên chuột Hà lan thực nghiệm.

Câu đằng còn có tác dụng ức chế cơ trơn của ruột, làm dịu cơn co thắt cơ trơn của phế quản 

Một số bài thuốc có cây Cau:

Viêm túi mật cấp tính, đơn thuần: 

Hạt cau tán bột, hạt cây cải củ, trần bì cắt nhỏ mỗi vị cân lấy 10g. Cho các vị vào nồi, đổ nước vào đun sôi 1 lúc là được. Ngày uống 2 lần sau bữa ăn. Có thể pha ít đường để dễ uống.

Tẩy sán dây:

Hạt cau, hạt bí ngô mỗi thứ 30g. Cho vào sắc lấy nước uống.

Tẩy giun móc: 

Hạt cau 20g + vỏ lụa trắng rễ xoan 30g. Cho các vị vào sắc, sắc đặc rồi thêm đường chế thành 60ml. Uống trước khi đi ngủ, khi bụng đói. Duy trì dùng liên tục trong 2 ngày.

Chữa viêm thận phù nề: 

Vỏ cau già 15g + mã thầy 50g. Cho 2 vị vào sắc lấy nước uống.

Chữa sốt rét cơn:

Bài 1: Hạt cau 12g phơi khô tán thành bột mịn + thường sơn 12g. Cho 2 vị này vào sắc lấy nước uống.

Bài 2: Triệt ngược thất bảo ẩm (sách Dị giản phương): Hạt cau, thường sơn sao rượu, thảo quả lùi, thanh bì, hậu phác mỗi vị 12g + trần bì, cam thảo mỗi vị 6g. Cho tất cả các vị trên vào sắc lấy nước uống hoặc tăng liều lên 4-5 lần rồi tán bột mịn, luyện hồ làm thành viên hoàn uống. Mỗi lần 12g, ngày 2 lần.

Bài 3: Hạt cau 2g + thường sơn 6g + thảo quả 1g + cát căn 4g. Cho các vị sắc với 600ml nước, sắc đến khi còn lại khoảng 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

Rễ cau làm thuốc cường dương: 

Rễ cau trắng ở dưới đất 40-60g sao vàng sắc lấy nước uống.

Chữa sỏi thận:

Rễ cau non, rễ cây dâu, rễ dừa, mỗi thứ 1 nắm sao vàng hạ thổ; cỏ mần chầu 1 nắm, mía lau 5 lóng, lá cây kim thất 1 nắm, đường phèn 1 nhúm (tổng cộng 7 vị) nấu nước uống.

Tua cau chữa hen suyễn: 

Tua cau cũ đốt tồn tính, tán mịn. Mỗi lần dùng khoảng 4 – 8 g trộn với cơm, nấu thành cháo. Dùng 3-4 lần sẽ thấy hiệu nghiệm.

Kiện tỳ, khai vị. Chữa ăn không tiêu, đầy trướng, ợ chua: 

Hạt cau 200g + đinh hương, đậu khấu, sa nhân, muối  mỗi vị 10g + trần bì 20g, Bỏ riêng hạt cau, còn lại bắc bếp sắc thành cao lỏng. Lấy hạt cau ra thái lát nhỏ uống 5-10g sau bữa cơm chiều bằng nước đã sắc.

Lưu ý:

  • Không dùng đối với  người có khí hư hạ hãm, hoặc không có trùng tích và không có khí trệ.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây chút chít!

Chia sẻ tới mọi người