Cây Dâu là cây gì?

Trong dân gian cây Dâu còn được gọi với tên khác là dâu tằm, dâu cang, tang, mạy mọn, nằn phong, tầm tang. Tên khoa học là Morus alba L. Morus acidosa Giff, thuộc họ dâu tằm Moraceae.

Cây Dâu thuộc dòng cây thân gỗ, là giống cây sống lâu năm, chiều cao khoảng 2 – 3m, đối với những cây có tuổi thọ cao thì có thể cao tới 6 – 7m. Lá hình trứng hay chia thùy, mọc so le, có lá kèm, mép lá khía răng cưa. Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực mọc thành bông có 4 lá dài, 4 nhị; hoa cái mọc cũng thành bông có 4 lá đái. Quả phức, mọng nước, khi chín màu đỏ rồi chuyển sang màu tím thẫm.

Phân bố:

Đây là dòng cây ưa không khí ẩm, nhiều ánh sáng nên cần phải trồng nơi có diện tích lớn như bãi sông, đất bằng, cao nguyên. Bởi vậy chỉ cần là nơi đáp ứng được 2 yêu cầu trên thì đều có thể trồng được.

Hiện nay, diện tích trồng cây Dâu ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khỏe cũng như chăn nuôi tằm ở nhiều nơi.

Cây thường ra hoa vào khoảng tháng 4, tháng 5, ra quả vào khoảng tháng 5 đến tháng 7.

Cây Dâu - Tang diệp, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc đông y chữa bệnh?
Cây Dâu – Tang diệp, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc đông y chữa bệnh?

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Bộ phận dùng làm thuốc của cây Dâu:

  • Lá dâu (Folium Mori) hay còn được gọi với tên khác là Tang diệp.
  • Vỏ rễ cây Dâu (Cortex Mori radices) còn được gọi là Tang bạch bì.
  • Quả dâu (Fructus Mori) còn gọi là Tang thầm.
  • Cành cây Dâu (Caulis Mori) còn gọi là Tang chi.

Ngoài ra còn dùng cây Tầm gửi kí sinh trên cây dâu, gọi là Tang ký sinh và Tổ bọ ngựa trên cây dâu, gọi là Tang phiêu diêu.

Thành phần hóa học:

Lá, cành và vỏ rễ cây Dâu có chứa flavonoid, coumarin, acid betulinic và một số chất khác. Quả dâu chứa anthocyanidin là sắc tố làm cho quả có màu đỏ tím khi chín, vitamin và đường.

Ngoài ra hiện nay các nhà khoa học đã nghiên cứu ra được một vài chất khác có trên lá, cành và quả dâu như: rotid, vitamin C, B1, D; acid hữu cơ : succinic, propionic, isobutyric, tanin (lá dâu);  đường, protid, tanin, vitamin C (quả dâu); Mulberrin, mulberrochromene, cyclomulberrin, morin, dihydromorin, dihydrokaempferol, maclurin (cành dâu).

Tác dụng – công dụng chung của cây Dâu:

  • Lá dâu có tác dụng giải cảm nhiệt, chữa sốt, làm ra mồ hôi, trừ đờm, chữa cao huyết áp, làm cho sáng mắt.
  • Cành dâu chữa viêm khớp, chân tay tê bại, trừ phong thấp, đau thắt lưng, đau nhức các đầu xương, chân tay co quắp, chữa ho, chữa bí tiểu tiện.
  • Vỏ rễ cây dâu dùng trị ho, ho ra máu, hen suyễn, lợi tiểu dùng khi phù thũng, tiểu tiện khó khăn.
  • Quả dâu có tác dụng bổ huyết, an thần dùng khi người thiếu máu, xanh xao, chóng mặt, mất ngủ, cơ thể phiền khát, miệng khô háo nước.
  • Tang ký sinh có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, chữa đau lưng mỏi gối, dưỡng huyết an thai, hạ huyết áp.
  • Tang phiêu diêu có tác dụng bổ thận, dùng khi thận hư, di tinh xuất tinh sớm, liệt dương, lợi tiểu khi tiểu tiện đục, chữa phụ nữ huyết bế đau lưng.

Theo đông y:

Lá Dâu có vị đắng, ngọt, tính bình có tác dụng tán phong, thanh nhiệt, lương huyết, sáng mắt.

Vỏ rễ Dâu sau chế biến có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thanh phế nhiệt, chỉ khái, tiêu sưng, lợi thủy, hạ suyễn.

Canh dâu non khô có vị đắng nhạt, tính bình có tác dụng trừ phong, tợi các khớp, thông kinh lạc, tiêu viêm, hạ nhiệt, giảm đau.

Quả dâu có vị ngọt, chua, tính mát có tác dụng dưỡng huyết, bổ gan thận, trừ phong.

Lá, cành, vỏ rễ cây dâu, tang ký sinh và tang phiêu diêu dùng với liều từ 8 – 12g/ngày, dùng dưới dạng thuốc sắc, có thể phối hợp với các vị thuốc khác. Quả dâu dùng với liều từ 12 – 20g/ngày, dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc pha nước làm siro uống.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Dâu:

Nghiên cứu thu được từ các nhà khoa học:

  • Vỏ trong rễ dâu có tác dụng gây hạ huyết áp, gây trấn tĩnh. Cao chiết với nước và methanol từ vỏ rễ dâu làm giảm mức đường huyết.
  • Lá dâu có tác dụng hạ huyết áp yếu. Chế phẩm an thần Passerynum gồm lá dâu, lạc tiên, vông nem, lá sen, thảo quyết minh, hạt tơ hồng, hạt keo giậu, củ sâm đại hành lại gây ngủ dễ dàng và ngon giấc.
  • Cao nước của thân cây dâu có tác dụng ức chế các vi khuẩn gram dương và các men.

Một số bài thuốc có dược liệu là Dâu:

Chữa thiếu máu, da xanh người gầy khô héo, mất ngủ, đầu choáng, chóng mặt:

Bài 1: Dùng quả Dâu chế thành sirô pha nước uống hàng ngày hoặc có thể đem đi ngâm rượu mỗi ngày uống lấy 5ml.

Bài 2: Quả Dâu + Câu Kỷ tử + Hà thủ ô đỏ + nhân hạt táo, mỗi vị cân lấy 10g, cho vào sắc lấy nước uống.

Chữa cảm ho, Mất ngủ:

Hái lấy khoảng 6 – 18g lá dâu, đem rửa sạch, thêm nước sắc uống.

Dự phòng cảm cúm:

Lá Dâu 12g + Cúc hoa 12g + Thảo quyết minh 8g, cho vào sắc lấy nước uống.

Mắt đau, viêm màng kết mạc cấp tính:

Lá Dâu đem rửa sạch, cho vào nồi đun lấy nước xông vào mắt.

Ngoài ra, lá Dâu bánh tẻ, rửa sạch, giã nát đắp, có thể làm tan huyết khi đau mắt đỏ sung huyết.

Huyết áp cao:

Lá Dâu và hạt Ích mẫu nấu nước ngâm chân buổi tối 30-40 phút trước khi đi ngủ.

Viêm khớp sưng phù, chân tay tê bại, cước khí, đầu ngón tay đau nhức, ngứa đỏ về mùa đông đợt lạnh nhiều:

Cành Dâu, Kê huyết đằng, Uy linh tiên, mỗi vị lấy 12g, cho vào sắc lấy nước uống.

Khó tiêu, chân tay phù nề:

Bài 1: Vỏ rễ Dâu, rửa sạch đem sắc lấy nước uống uống.

Bài 2: Vỏ rễ dâu + vỏ Gừng + vỏ Quít + vỏ quả Cam + Phục linh, mỗi vị lấy với lượng bằng nhau, cho tất cả vào sắc lấy nước uống.

Chữa Thiếu máu, mắt mờ:

Quả ngâm rượu hoặc nước đường uống, ngày 12 – 20g quả. Sirô quả chín bôi chữa đau họng, lở loét miệng lưỡi.

Di mộng tinh, hoạt tinh:

10 tổ Bọ ngựa sao cháy nghiền bột, thêm đường, uống trước khi đi ngủ, uống liên tục 3 ngày. Có thể thêm Long cốt, nghiền bột mịn, ngày 2 lần, trong 3 ngày.

Ho, hen suyễn:

Vỏ rễ cây dâu 20-40g, thêm nước vào sắc uống. Nếu bạn có hãy thêm vào một lượng vừa đủ Địa cốt bì và Cam thảo.

Ra mồ hôi trộm ở trẻ em, ra mồ hôi ở bàn tay người lớn:

Bài 1: Nấu canh: lá Dâu non rửa sạch cho vào nấu canh chung với tôm, tép. Mỗi ngày ăn 1 bát loa.

Bài 2: Dạng thuốc sắc: lá dâu bánh tẻ 12g + Cúc hoa, Liên kiều, Hạnh nhân mỗi vị cân lấy 12g + Bạc hà, Cam thảo mỗi vị 4g + Cát cánh 8g + Lô căn 20g, cho tất cả vào sắc lấy nước uống.

Đái dắt, đái nhạt:

Tổ Bọ ngựa Dâu + quả Kim anh, nướng cháy, tán mịn, uống chung với 2 – 3ml rượu lúc đói.

Chữa hen suyễn, tiểu tiện ít, Thấp khớp, đau nhức xương:

Lấy khoảng 6 – 12g vỏ rễ, cho vào sắc lấy nước uống.

Trừ phong thấp, mạnh gân cốt, can thận yếu dẫn tới đau lưng mỏi gối:

Tầm gửi cây Dâu + Cẩu tích + Ngưu tất, lấy với lượng bằng nhau, đem sắc lấy nước uống.

Lưu ý:

  • Dâu tằm có tính hàn nên không thích hợp dùng cho những người bị tiêu chảy, sôi bụng. 
  • Dâu tằm kỵ kim loại nên khi nấu nước dâu, bạn nên sử dụng nồi đất hoặc nồi tráng men.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây sài hồ!

Chia sẻ tới mọi người