Cây ích trí nhân là gì?

Ích trí nhân thuộc dạng cây thân thảo sống được lâu năm và được biết đến là một trong những vị thuốc quý trong đông y. Thân cây có độ cao trung bình từ 1 đến 1,5m, toàn cây có vị cay. Lá có hình mác dài khoảng 17 đến 33cm và có chiều rộng từ 3 đến 6cm. Hoa tự hình chùm mọc ở đầu cành. Hoa mầu trắng, có đốm tím.

Quả hình cầu, đường kính 1,5cm, khi chín có mầu vàng xanh, hạt nhiều cạnh màu xanh đen. Quả thường nhọn 2 đầu, dài từ 1,2 từ 2cm, đường kính 1 – 1,3 cm. Vỏ quả mỏng màu nâu hoặc nâu xám, có 13 – 20 đường gờ nhỏ, trên bề mặt lồi lõm không đều, ở đỉnh có vết bao hoa, gốc có vết cuống quả. Hạt dính thành khối 3 múi có màng mỏng ngăn cách; mỗi múi có 6 – 11 hạt. Hạt hình tròn dẹt hoặc nhiều cạnh, không đều, đường kính chừng 3 mm, màu nâu sáng hoặc vàng sáng. áo hạt mỏng, màu nâu nhạt, chất cứng, phôi nhũ màu trắng. Mùi thơm, vị cay, hơi đắng.

Ích trí nhân có tên khoa học là Alpinia oxyphylla Miq, thuộc Họ Gừng (Zinggiberaceae) và được biết đến với các tên khác như: Anh Hoa Khố, Ích Chí Tử, Trích Đinh Tử, diếp đắng.

Phân bố:

Ích trí nhân thường mọc hoang ở những vùng rừng núi trung du và thượng du Việt Nam, nhưng với số lượng ít, không nhiều nên vẫn phải nhập từ Trung Quốc.

Ích trí nhân, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!
Ích trí nhân, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!

Bộ phận dùng làm thuốc:

Phần được sử dụng là phần quả và hạt phơi khô (Fructus Alpiniae Oxyphyllae)

Thành phần hóa học có trong ích trí nhân:

Theo các nhà phân tích hóa học cho thấy, thành phần hóa học có trong ích trí nhân bao gồm những chất chính như:

0,7% tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là Tecpen C10H16, Sesquitecpen C10H24 và Sesquitecpenancola, có chừng l,7 l% chất Saponin. Ngoài ra còn các thành phần khác như α-Cyperone, 1,8-Cineole, 4-Terpineol, α-Terpineol, β- Elemene, 1-Methyl-3-Isopropoxy cyclohexane, α-Dimethyl Benzepropanoic acid, Guaiol, Zingiberol, a-Eudesmol, Aromadendrene.

Những nghiên cứu khoa học về cây ích trí nhân:

Theo nghiên cứu khoa học cho thấy chiết xuất ích trí nhân có tác dụng giúp ức chế co bóp hồi tràng, cường tim, làm giãn tĩnh mạch.

Theo Yamahara J và cộng sự, Chem Pharm Bull Tokyo 1990, 38 (11): 3053 Nước sắc diếp đắng cho uống 50mg/kg đối với chuột, thấy có tác dụng chống loét dạ dầy.

Theo Giang Cẩm Bang, Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí 1990, 15 (8): 492 Nước sắc diếp đắng có tác dụng ức chế tiền liệt tuyến.

Chu Kim Hoàng, Trung Dược Dược Lý Học, Q 1, Thượng Hải Khoa Học Kỹ Thuật Xuất Bản 1986: 273 theo Nước sắc ích trí nhân có tác dụng làm tăng ngoại chu vi huyết dịch bạch tế bào.

Theo y học hiên đại cũng chứng minh Ích trí nhân còn có tác dụng chống viêm và ức chế thụ thể muscarinic, làm giảm co thắt cơ trơn bàng quang và các cơn són tiểu.

Theo đông y:

Ích trí nhân, có vị cay, tính ôn, không độc, quy vào kinh tỳ, thận. Tác dụng giúp ôn tỳ, ấm thận, cố tinh, chỉ tả, cầm được chảy nước bọt, súc miệng, an thần, an tam tiêu.

Công dụng của ích trí nhân:

  • Giúp thanh lọc gan, giải độc cơ thể, lợi tiểu, chống viêm và làm giảm co thắt cơ trơn bàng quang.
  • Hỗ trợ trị các cơn són tiểu.
  • Hỗ trợ trọ tiêu chảy, đau bụng do lạnh, nhiều nước dãi, di tinh.
  • Hỗ trợ trị đái dầm và hỗ trợ trị băng lậu.
  • Hỗ trợ trị đầy hơi và hỗ trợ trị nôn mửa.
  • Hỗ trợ trị bàng quang suy yếu, tiểu nhiều không tự chủ và hỗ trợ trị tiểu đục.

Một số bài thuốc về ích trí nhân:

Trị khí của bàng quang suy yếu, không kiềm chế được gây nên chứng tiểu nhiều:

Sử dụng Diếp đắng sao chung với muối cho kỹ rồi bỏ muối đi. Hợp chung với Thiên thai ô dược, 2 vị bằng nhau, tán bột. Dùng rượu nấu bột Hoài sơn làm hồ, trộn với thuốc bột làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 30 viên với nước sôi, lúc đói.

Trị bụng trướng đau, tiêu chảy liên tục không cầm, đó là chứng khí thoát:

Dùng diếp đắng 80g, sắc nước thật đặc, uống dần

Trị tỳ và thận có hư nhiệt, tâm khí không thông, tiểu đục, tinh yếu:

Diếp đắng, Phục thần, Phục linh. Lượng bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần uống 8-12g.

Trị xích trọc:

Sử dụng diếp đắng 80g, Phục thần 80g, Viễn chí, Cam thảo (thủy chưng) 320g. tán nhuyễn, trộn với rượu làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. mỗi lần uống 50 viên, với nước Gừng sắc, lúc đói.

Trị bạch trọc, nước tiểu đục như nước vo gạo kèm bụng đầy:

Sử dụng diếp đắng, tẩm với nước muối cho kỹ, sao. Lại dùng nước Gừng sống tẩm Hậu phác rồi sao. Hai vị bằng nhau, thêm Gừng 3 lát, Táo 1 trái, sắc uống nóng.

Trị tiểu nhiều lần và trẻ em đái dầm:

Sử dụng Ô dược, diếp đắng, Hoài sơn (chưng rượu), lượng bằng nhau. Tán bột, làm hoàn, mỗi lần uống 8g-12g, ngày 2-3 lần.

Trị phụ nữ bị băng trung, huyết ra như nước:

Sử dụng diếp đắng, sao, tán nhuyễn. Uống 8g với nước cơm pha ít muối (Kinh Hiệu Sản Bảo). Làm cho thơm miệng, tan mọi mùi tanh hôi: diếp đắng 40g, Cam thảo 8g, nghiền nát, cho vào gói kín. Thỉnh thoảng dùng lưỡi liếm 1 ít.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

Không dùng cho người huyết táo, có hỏa.

Không dùng cho người nhiệt gây nên băng huyết, bạch trọc.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người