Cây Hạ Khô Thảo là gì?

Hạ khô thảo thuộc dạng cây thân thảo, sống được lâu năm và là một trong những vị thuốc quý được sử dụng nhiều trong đông y. Thân cây có dạng hình vuông, có màu hơi tím đỏ và bao bên ngoài là 1 lớp lông mỏng.

Lá của cây thường mọc đối xứng nhau, có dạng hình chứng hoặc hình mác dài, mép lá nguyên hoặc cũng có xẻ răng cưa, có lớp lông mỏng bao bên ngoài.

Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5-6 hoa. Đài hoa có hai môi, môi trên có ba răng, môi dưới có hai răng, hình ba cạnh. Cánh hoa màu tím nhạt hình môi, môi trên như cái mũi, môi dưới sẻ ba, thuỳ giữa rộng hơn, nhị 2 dài, 2 ngắn, đều thò ra khỏi tràng. Vòi nhỏ dài. Quả nhỏ và cứng.

Hạ khô thảo có tên khoa học là Brunella (Prunella0 vulgaris L thuộc họ Hoa môi Lamiaceae và được biết với các tên khác như: Tịch tú, nãi đông, mạch hạ khô, thiết tuyết hạ khô, thiết sắc thảo,….

Cây hạ khô thảo thường phân bố ở đâu?

Thuộc dạng cây mọc hoang, hạ khô thảo thích hợp với khí hậu vùng Âu, Á ôn đới và thường mọc nhiều ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và nhiều nước châu Âu. Hiện nay loài cây này cũng được người ta phát hiện ở Việt Nam thuộc các tỉnh như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hà Giang vào các tháng 4, 5, 6 rất nhiều, sang đến tháng 8 một số đã lụi đi. Hiện tại đã được khai thác.

Hạ khô thảo, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!
Hạ khô thảo, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!

Bộ phận thường dùng làm thuốc:

Phần thường được sử dụng là cụm hoa và quả phơi hay sấy khô (Flos Brunellae cum Fructu) của cây hạ khô thảo. Có người dùng cả bộ phận trên mặt đất (tháo) hái về phơi hay sấy khô để dùng. Vào mùa hạ, khi một số quả đã chín thì hái cành mang hoa và quả sấy khô hay phơi khô.

Thành phần hóa học:

Theo một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thành phần hóa học có trong cây hạ khô thảo bao gồm những thành phần chính như: alcaloid tan trong nước, 3,5% muối vô cơ, tinh dầu. Trong các muối vô cơ có chủ yếu là kali chlorua. Tinh dầu chứa d-camphor (khoảng 50%) a- và D-fenchon, vết của alcol fenchylic. Chất đắng là prunellin (trong đó phần không đường là acid ursolic; còn có denphinidin cyanidin. Ở Pháp, người ta đã xác định trong cây có nhựa chất đắng, tanin, tinh dầu, chất béo, lipase, một glucosid tan trong nước (0,70g/kg cây khô) và một saponosid acid.

Những nghiên cứu khoa học về cây hạ khô thảo:

Theo Cửu Bảo, Điền Tinh Quang và Đào Thanh Cát (1940, Hòa hán dược dụng thực vật) đã thí nghiệm lấy các muối vô cơ trong nước sắc hạ khô thảo, chế thành thuốc tiêm, tiêm tĩnh mạch thỏ, lập tức thấy huyết áp hạ xuống, vận động hô hấp tăng lên, tác dụng lợi tiểu rõ rệt như các muối kali khác, do đó suy ra rằng sở dĩ hạ khô thảo có các dụng là do lượng muối kali khá cao. Hạ khô thảo có tác dụng hạ huyết áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng khó chịu của bệnh cao huyết áp.

Một số nghiên cứu chỉ ra, thuốc sắc, dịch ngâm nước hạ khô thảo đều có tác dụng giảm thấp huyết áp động vật thực nghiệm rõ rệt. Thân, lá, bông và toàn cây đều có tác dụng giáng áp, nhưng tác dụng của bông rõ hơn. Tiêm vào xoang bụng chuột con dịch lắng cồn sắc nước hạ khô thảo có tác dụng chống viêm rõ rệt.

Thuốc sắc cũng có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn biến dạng, khuẩn cầu chùm và trực khuẩn lao thể người.

Theo trung dược học Tiêm dịch từ hạ khô hảo vào xoang bụng chuột con nhận thấy tác dụng chống viêm rõ rệt.

Theo đông y:

Hạ khô thảo có vị đắng, cay, tính hàn, không độc, quy vào 2 kinh can, đởm. Tác dụng giúp can hỏa, tán uất kết, tiêu ứ sáng mắt, làm thuốc chữa loa dịch, giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ.

Công dụng của hạ khô thảo:

  • Giải trừ, tiêu độc, thanh nhiệt.
  • Hỗ trợ làm sáng mắt, giúp thông tiểu tiện, kháng khuẩn và phòng chống ung thư.
  • Hỗ trợ trị sưng đau, nhức đầu, chóng mặt.
  • Hỗ trợ trị bướu cổ, tràng nhạc, tuyến vú tăng sinh.
  • Hỗ trợ trị nhọt vú sưng đau, huyết áp cao.
  • Hỗ trợ giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ.
  • Hỗ trợ trị lở loét, tràng nhạc, mụn nhọt, dò ở trên đầu.

Một số bài thuốc từ cây hạ khô thảo:

Chữa xích bạch đới:

Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với nước cơm (sách Từ Thị Phương).

Chữa tràng nhác:

Sử dụng (loa lịch) hạ khô thảo 8g, cam thảo 2g, nước 3 bát (600ml) sắc còn 200ml chia ba lần uống trong ngày.

Thông tiểu tiện:

Hạ khô thảo 8g, hương phụ tử 2g, cam thảo 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày.

Bị đánh hay bị thương:

Dùng hạ khô thảo tươi tán nhỏ đắp vào vết thương. Có thể dùng chữa bệnh cao huyết áp với liều 5-15g dưới dạng thuốc sắc.

Chữa tràng nhạc mã đao:

Hạ khô thảo 5 lạng (200g) đun lấy nước đặc uống, uống trước khi ăn cơm 2 giờ (Bài thuốc trích trong sách “Tiếp thị ngoại khoa – Bản thảo cương mục”). Cũng bệnh trên có thể dùng hạ khô thảo, hương phụ, bối mẫu, viễn chí đun lấy nước đặc uống rất hay, không nên coi thường (sách kinh nghiệm phương – bản thảo cương mục).

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng. Cẩn thận khi sử dụng cho người tỳ vị hư yếu.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người