Cây Vàng đắng là gì?

 Cây Vàng đắng còn được gọi với những cái tên khác là Loong t’rơn, Kơ trơng, Dây đằng giang, Hoàng đằng, Hoàng đằng lá trắng, Dây khai. Tên khoa học là Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr, thuộc họ Tiết dê – tên danh pháp khoa học là Menispermaceae.

Cây Vàng đắng là một loại dây leo to, có phân nhánh, leo lên những nây gỗ cao. Thân hình trụ, đường kính 1,5 – 10cm. Thân to, màu vàng, thân già màu ngà, xù xì, có đoạn có chỗ u phình to tròn và mắt (vết tích vuống lá). Cành non, lá non, cụm hoa và quả đều phủ một lớp lông mềm. Lá đơn, nguyên, mọc so le, có cuống, đáy tròn hoặc lõm, hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá hình chân vịt, mặt trên lá màu xanh lục, mặt dưới có lông bạc tráng, hoa màu trắng phớt tím, hoa mọc thành chùm chùy ở thân đã rụng lá, cuống hoa rất ngắn. Hoa đều, đơn tính. Hoa đực có 6 nhị: 3 nhị ngoài rời, 3 nhị trong cso chỉ thị hàn liền. Hoa cái có 3 noãn. Qủa hạch, hình cầu. Mùa hoa quả: thánh 1 – 5.

Cây Vàng đắng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Vàng đắng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Phân bố:

Thường phân bố rộng ở các tỉnh thuộc miền Nam nước ta như Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai,… . Có thể thu hái thân, rễ quanh nă, thu về sơ chế sạch thái nhỏ phơi hoặc sấy khô.

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Bộ phận dùng làm thuốc của cây Vàng đắng là phần thân cây – Caulis Coscinii fenestrati.

Thu hái gần như quanh năm. Hái về cạo vỏ, cắt thành đoạn dài 10 – 13cm phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học:

Trong thân Vàng đắng có alcaloid là berberin (1,5 – 3%), ngoài ra còn có palmatin, jatrorrhizin.

Tác dụng – công dụng chung của cây Vàng đắng:

Chữa lỵ, tiêu chảy, làm thuốc hạ nhiệt, chữa sốt rét, đau mắt, làm nguyên liệu chiết berberin.

Berberin clorid dùng để chữa lỵ, ỉa chảy, đau mắt, chữa bệnh về gan, mật, vàng da, ăn uống khó tiêu.

Theo đông y:

Rễ và thân cây Vàng đắng đều có vị đắng, tính mát đi vào kinh Phế, Tỳ, Can. Có tác dụng sát trùng, thanh nhiệt và tiêu viêm. Chủ trị các bệnh như viêm ruột, tiêu chảy, viêm tai, đau mắt, sốt rét, kiết lỵ, lở ngứa ngoài da và tiêu hóa kém.

Ngày dùng khoảng 6 – 12 g, dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Berberin clorid ngày dùng 0,02 – 0,2 g dưới dạng thuốc viên hoặc pha dung dịch 0,5 – 1% nhỏ, rửa mắt.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Vàng đắng:

Hoạt chất Berberin trong Vàng đắng có khả năng ngăn chặn phản ứng viêm, tăng độ đàn hồi cho mạch máu và ngăn ngừa hình thành các mảng xơ vữa động mạch. Năm 2004 các nhà khoa học còn nhận thấy hoạt chất Berberin trong Vàng đắng còn có công dụng giảm chất béo triglyceride tích trữ tại gan và hàm lượng cholesterol trong máu.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc đã chứng minh rằng ngoài những tác dụng đối với mạch máu, hoạt chất Berberin còn có tác dụng bảo vệ sức khỏe tim mạch, giúp tăng khả năng giãn nở, co bóp và duy trì hoạt động của thần kinh giao cảm tại tim. Có tác dụng ức chế vi khuẩn, điều trị tiêu chảy và viêm kết mạc do nhiễm khuẩn.

Một số bài thuốc có cây Vàng đắng:

Chữa mắt sưng đỏ và có màng:

1g phèn chua và 4g hoàng đằng. Đi tán nhỏ các dược liệu, sau đó đem chưng cách thủy và gạn lấy nước, nhỏ mặt.

Lưu ý: hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.

Chữa kiết lỵ:

Mức hoa trắng và bột hoàng đằng hoặc cao cỏ sữa lá lớn và hoàng đằng cân với lượng bằng nhau rồi trộn đều, làm thành viên hoàn và dùng uống hằng ngày.

Trị trẻ em nóng trong người khiến da nổi mụn nhiều:

Lấy lượng vàng đắng vừa đủ dùng nấu nước và tắm từ 1 – 2 lần/ ngày cho đến khi khỏi hẳn.

Chữa viêm tai có mủ:

Phèn chua 10g + bột vàng đắng 20g. Tán nhuyễn, trộn đều và thổi vào tai. Thực hiện 2 – 3 lần/ ngày liên tục trong vài ngày.

Chữa viêm phế quản, hội chứng lỵ, bạch đới, viêm tai trong và viêm đường tiết niệu:

Huyết dụ, mộc thông và hoàng đằng, mỗi thứ 10 – 12g. Đem các vị đi sắc lấy nước uống, ngày dùng 1 thang cho đến khi khỏi bệnh.

Chữa viêm ruột kiết lỵ:

Lá mơ, cỏ sữa lá lớn mỗi vị 20g + vàng đắng 14g. Đem các vị đi sắc uống.

Chữa kẽ chân viêm, ngứa và chảy nước:

Kha tử 10g và vàng đắng từ 10 -20g. Đem các vị trên giã nát, sắc đặc và dùng nước ngâm chân từ 1 – 2 lần/ ngày.

Chữa mắt đau, sưng đỏ và thường xuyên chảy nước:

Cam thảo 2g + phòng phong, kinh giới, bạch chỉ, long đởm thảo và cúc hoa mỗi thứ 4g + mật mông 9g + vàng đắng 8g. Cho tất cả các vị vào sắc uống, ngày dùng 1 thang, duy trì bài thuốc liên tục trong 3 – 5 ngày.

Chữa viêm dạ dày, bàng quang và viêm ruột:

Cân khoảng 10g rễ hoàng đằng. Rửa sạch cho vào sắc uống.

Lưu ý:

  • Người có huyết hàn hoặc mắc các bệnh do hàn không được dùng.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây viễn chí!

Chia sẻ tới mọi người