Cây Viễn chí là gì?

Cây Viễn chí (Radix Polygalae)  còn được gọi là  Khổ viễn chí, tỉnh tâm trượng, viễn chí nhục, yêu nhiễu, khổ yêu, chích viễn chí, chí thông, nga quản chí thông,… . Tên khoa học là Polygala tenuifolia Willd, thuộc Họ Viễn chí – Polygalaceae.

Viễn chí thuốc loài cậy nhỏ, sống dai. Từ gốc mọc lên nhiều thân nhỏ. Thân loài viễn chí lá nhỏ nhẵn còn loài Siberi thì có lông tơ ngắn. Lá mọc so le, không cuống. Loài Viễn chí lá nhỏ phiến lá hẹp, nhọn còn loài Siberi phiến rộng hơn, hình mác. Cụm hoa chùm. Đài không chùm. Đài không đều còn lại trên quả, 5 lá đài có hai lá bên phát triển thành cánh; 3 cánh hoa màu xanh dính lại thành ống không đều; 8 nhị dính liền thành 1 bó. Bầu trên, 2 ô. Quả nang.

Phân bố:

Nước ta có nhiều loại Viễn chí đã được đưa vào để sử dụng làm thuốc, tuy nhiên chưa có tài liệu ghi chép nào nghiên cứu kỹ về cây này và hiện nay chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Cây Viễn chí, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Viễn chí, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận dùng:

Rễ cây Viễ chí lá nhỏ (Radix Polygalae), thu hoạch vào mùa xuân, mùa thu, đào lấy rễ Viễn chí, loại bỏ rễ con và tạp chất, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học:

Cây Viễn chí có chứa Saponin, tenuidin và đường polygalitol.

Tác dụng – công dụng chung của cây Viễn chí:

Chữa ho đờm nhiều: mất ngủ, hay mê, hồi hộp, hay quên, đánh trống ngực, tinh thần hoảng hốt. Chữa mụn nhọt, vú sưng đau, có thể ngâm viễn chí với rượu để uống, bã còn lại đem đắp.

Theo đông y:

Theo Đông y, Viễn chí có vị đắng, cay, tính ôn đi vào kinh phế, tâm và thận. Có tác dụng dưỡng tâm, an thần, khứ đàm khai khiếu, tiêu ung thũng. Chủ trị các chứng hồi hộp mất ngủ, tâm thận bất giao, đàm trở tâm khiếu, động kinh, hóa đàm khái thấu, ung nhọt sưng, thận tích, bôn đồn, mộng tinh, di tinh, ghẻ lở, mụn nhọt, ho, tâm thần hay quên, lo sợ, ho nhiều đờm và mất ngủ.

Dùng với liều từ 3 – 9g/ngày dùng dưới dạng thuốc sắc, làm cao hay tán thành bột mịn. Thường phối với các vị thuốc khác.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Viễn chí:

Viễn chĩ có tác dụng hó đờm có thể nhờ vào cơ chế hóa clam của thuốc, do thuốc kích thích lên niêm mạc bao tử gây phản xạ tăng tiết ở phế quản(Trung Dược Học); gây ngủ và chống co giật (Trung Dược Học).

Chất Senegi có trong Viễn trí có tác dụng tán huyết, phần vỏ mạnh hơn phần gỗ. Viễn chí có tác dụng hạ áp (Trung Dược Học).

Cồn chiết xuất từ cây Viễn chí khi nghiên cứu in vitro trong ống nghiệm thấy có tác dụng ức chế vi khuần gram dương, trực khuẩn lỵ, thương hàn và trực khuẩn lao ở người (Trung Dược Học).

Saponin có trong Viễn chí có khả năng kích thích dạ dày gây buồn nôn. Lưu ý không nên dùng đối với những bệnh nhân viêm loét dạ dày (Trung Dược Học).

Khi thực nghiệm trên động vật, khi dùng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch đều có tác dụng kích thích tử cung có thai hay không đều như nhau (Trung Dược Học).

Một số bài thuốc có cây Viễn chí:

Trị chứng bệnh do máu không đủ nuôi tim (tâm huyết bất túc), dễ quên, hồi hộp, mất ngủ, hay mơ:

Đảng sâm, viễn chí, mạch đông, phục linh, đương quy, bạch thược, sinh khương, đại táo mỗi vị cân lấy 10g + cam thảo 3g. Các vị khác sắc lấy nước, cân ngoài 3g Quế tâm rồi đi tán thành bột mịn, hòa bột quế này vào rồi uống.

Người suy nhược thần kinh, quên lẫn, giảm trí nhớ, tim đập mạnh, loạn nhịp, mất ngủ:

Viễn chí tán bột mịn. Mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, uống với nước cơm hoặc cháo.

Trị suy nhược thần kinh, động kinh:

Cân 12g bình vôi + 12g câu đằng + 12g thiên ma + 12g viễn chí + 12g đồng lượng. Sắc chung lấy nước uống. Duy trì uống liên tục, mỗi ngày một thang.

Trị suy nhược thần kinh, quên lẫn, rối loạn trí nhớ:

Đẳng sâm, phục linh mỗi vị 30g + thạch xương bồ, viễn chí mỗi vị 20g. Cho tất cả đi sấy khô rồi tán thành bột làm thành viên hoàn. Chia đều uống trong 5 – 7 ngày, mỗi ngày 1 – 2 lần uống.

Trị viêm phế quản mạn tính, ho nhiều đờm:

Viễn chí 12g + trần bì, cam thảo mỗi vị 4g. Cho tất cả vào sắc lấy nước uống.

Chữa trẻ em sốt cao co giật:

Viễn chí, sinh địa, câu đằng, thiên trúc hoàng, mỗi vị cân lấy 8g. Sắc lấy nước uống.

Dùng cho người tim đập mạnh, loạn nhịp, quên lẫn, giảm trí nhớ, mất ngủ, ho, nhiều đờm:

Viễn chí, toan táo nhân sao mỗi vị 10g + gạo tẻ 50g. Sắc các vị thuốc lấy nước, bỏ bã, cho gạo vào nấu cháo. Ăn vào buổi tối trước khi ngủ.

Chữa ho có đờm:

Viễn chí 8g + cát cánh, cam thảo mỗi vị 6g. Cho tất cả vào sắc lấy nước, chia làm 3 phần bằng nhau, uống trong ngày.

Lưu ý:

  • Người bệnh không có chứng thực hỏa và người âm hư dương vượng không dùng.
  • Người viêm loét dạ dày, phụ nữ có thai, người trầm cảm không nên dùng.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây vừng đen!

Chia sẻ tới mọi người