Thông tin từ: 
Đây là dữ liệu cấp số đăng ký lưu hành gốc theo các quyết định cấp số đăng ký (SĐK) lưu hành (chưa bao gồm các dữ liệu đã được đính chính, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy ĐKLH trong quá trình lưu hành)
| Số giấy phép lưu hành (GPLH) |
|
|---|---|
| Ngày hết hạn SĐK |
|
| Tên thuốc |
|
| Thông tin hồ sơ gia hạn |
|
| Hoạt chất |
|
| Hàm lượng |
|
| Số quyết định |
|
| Năm cấp |
|
| Đợt cấp |
|
| Dạng bào chế |
|
| Quy cách đóng gói |
|
| Tiêu chuẩn |
|
| Tuổi thọ |
|
| Thông tin công ty đăng ký |
|
| Thông tin công ty sản xuất |
|
| Tài liệu công bố thay đổi bổ sung |
Sao chép số giấy phép lưu hành (GPLH) từ bảng thông tin trên, sau đó vào website Dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế:

Số đăng ký là mã do Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành cho từng loại thuốc. Số đăng ký là dãy số đứng sau chữ SĐK - các mã thường bắt đầu bằng:
Kiểm tra đầy đủ, đối chiếu các thông tin dựa trên kết quả được tìm kiếm.

Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo tư vấn từ Dược sĩ, không được tự ý sử dụng, mọi thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Việt Nam |
| Quy cách | Hộp 6 vỉ x 10 viên |
| Thương hiệu | NIC Pharma |
| Chuyên mục | Thuốc bổ & vitamin |
| Số đăng ký |
VD-19225-13
|
| Nhà sản xuất | CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM USA-NIC |
| Hoạt chất | Cao nhân sâm; Vitamin A, B1, B2, B5, B6, B12, PP, C |
PHARGINGTON chỉ định để bổ sung vitamin hoặc nhu cầu của cơ thể tăng trong các trường hợp: Thể chất yếu kém, chán ăn, mệt mỏi, trẻ đang phát triển, người lớn tuổi…
Nội dung chính
PHARGINGTON được chỉ định để bổ sung vitamin hoặc nhu cầu của cơ thể tăng trong các trường hợp: Thể chất yếu kém, chán ăn, mệt mỏi, trẻ đang phát triển, người lớn tuổi
Sản phẩm đã được Cục Dược – Bộ Y tế cấp phép dưới dạng thuốc không kê đơn, chỉ bán theo đơn của bác sỹ. Nếu cần thêm thông tin, xin hỏi ý kiến bác sĩ. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.
Tá dược vđ 1 viên nang mềm Dầu Olein, lecithin, sáp ong, palm oil, gelatin, glycerin, sorbitol, nipazol, nipagin, màu ponceau, màu patent blue, titan dioxyd, vanilin, nước RO).
Dùng theo đường uống
Không sử dụng cho phụ nữ có thai vì phụ nữ có thai khi dùng nhân sâm có thể gây chảy máu không cầm được khi chuyển dạ.
Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Có thể gây chóng mặt, nhìn mờ, ngất, nên thận trọng cho người lái xe và vận hành máy móc.
Dùng vitamin A liều cao, kéo dài có thể dẫn đến các triệu chứng: Mệt mỏi, dễ bị kích thích, chán ăn, sút cân, rối loạn tiêu hóa, sốt, gan lách to, da bị biến đổi, rụng tóc, calci huyết cao, phù nề dưới da, đau ở xương và khớp.
Nước tiểu có thể vàng do vitamin B2.
Vitamin B6; Dùng vitamin B6 liều từ 200mg/ngày và dài ngày (trên 2 tháng) có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi nặng, tiến triển từ dáng đi không vững và tê cóng bàn chân và vụng về bàn tay. Tình trạng này có thể phục hồi khi ngừng dùng thuốc, mặc dù vẫn còn để lại ít nhiều di chứng.
Vitamin PP: Khi dùng liều cao có thể gây một số tác dụng không mong muốn sau, nhưng sẽ hết khi ngưng sử dụng thuốc.
Vitamin C: Tăng oxalat – niệu, buồn, nôn, ợ nóng, co cứng cơ bụng, mệt mỏi, đỏ bừng, nhức đầu, mất ngủ và tình trạng buồn ngủ đã xảy ra. Uông liêu 1 g/ ngày hoặc lớn hơn có thể xảy ra ỉa chảy.
Vitamin A:
Vitamin B6: Liều cao và kéo dài trên 200 mg/ ngày, sử dụng trên 2 tháng dẫn đến ngộ độc vitamin B6, biểu hiện thần kình ngoại vi. Nếu có hiện tuợng quá liều cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để điều trị triệu chứng.
Vitamin PP: Liều nhỏ vitamin pp thường không gây độc. Tuy nhiên dùng liều cao vitamin pp (như trong điều trị bệnh Pellagra: 1500 mg/ ngày) có thể dẫn đến quá liều vitamin pp. Quá liều vitamin pp không có biện pháp giải độc đặc hiệu. Sử dụng các biện pháp thông thường như gây nôn, rửa dạ dày, điều trị triệu chứng và hỗ trợ.
Vitamin C: Những triệu chứng quá liều bao gồm: sỏi thận, buồn nôn, viêm dạ dày và ỉa chảy. Gây lợi tiểu bằng truyền dịch có thể có tác dụng sau khi uống liều lớn.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Cao nhân sâm: Nhân sâm làm tăng sinh lực, tăng sức bền vận động, giảm mệt mỏi.
Nhân sâm làm hưng phấn, tăng khả năng làm việc trí óc, tăng tuần hoàn não, tăng trí nhớ, khả nàng tập trung, chống suy nhược thần kinh.
Tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống stress, chống các điều kiện bất lợi. Tăng kháng thể, tăng hoạt động thực bào.
Bảo vệ gan khỏi các tác nhân độc hại của môi trường, kích thích tái tạo tế bào bị tổn thương.
Điều hòa huyết áp, điều hòa cholesterol máu, chống xơ vữa động mạch, làm bền thành mạch.
Vitamin A: Là vitamin tan trong dầu rất cần cho thị giác, cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì biểu mô.
Vitamin Bl\ Thiamin thực tế không có tác dụng dược lý ngay cả ở liều cao. Thiamin pyrophosphat, dạng có hoạt tính sinh lý, là coenzym chuyển hoá carbohydrat làm nhiệm vụ khử carboxyl của các alpha cetoacid như pyruvat và alpha cetoglutarat và trong việc sử dụng pentose trong chu trình hexose monophosphat.
Khi thiếu hụt thiamin sự oxy hoá alpha cetoacid bị ảnh hưởng, làm cho nồng độ pyruvat trong máu tăng (điều này giúp chẩn đoán thiếu thiamin)
Thiếu thiamin sẽ gây bệnh beri-beri (bệnh tê phù). Thiếu nhẹ biểu hiện trên bệnh thần kinh (beriberi khô) như viêm thần kinh ngoại biên, rối loạn cảm giác các chi, có thể tăng hoặc mất cảm giác. Trương lực cơ mất dần và có thể gây ra chứng bại chi hoặc liệt một chi nào đó. Thiếu hụt trầm trọng gây rối loạn nhân cách, trầm cảm, thiếu sảng kiến và trí nhớ kém như bệnh não Vemicke và nếu điều trị muộn sẽ gây loạn tâm thần Korakoff.
Các triệu chứng tim mạch do thiếu thiamin bao gồm khó thở khi gắng sức, đánh trống ngực nhịp tỉm nhanh và rối loạn khác trên tim được biểu hiện là rối loạn điện tâm đồ và bằng suy tim có cung lượng tim cao. Sự suy tim như vậy gọi là bệnh beri-beri ướt.
Vitamin B2: Khi uống hoặc tiêm sẽ biến đổi thành 2 co-enzym lả flavin mononucleotid (FMN) và flavin adenin dinucleotid (FAD), là các dạng co enzym hoạt động cần cho hô hấp của mô. Riboflavin cũng cần cho sự chuyển hoá pyridoxin, sự chuyển hoá tryptophan thành niacin, và liên quan đến toàn vẹn của hồng cầu.
Vitamin B5: (Dexpanthenol, calci pantothenat) là tiền chất của co-enzym A cần cho phản ứng acetyl hoá trong tân tạo glucose, giải phóng năng lượng từ carbohydrat, tổng hợp và thoái biến acid béo, tổng hợp sterol và nội tiết tố steroid, porphyrin, acetylcholin và những hợp chất khác. Acid pantothenic cần cho chức năng bình thường của các mô.
Vitamin B6 tồn tại dưới 3 dạng: Pyridoxal, pyridoxin và pyridoxamin. Khi vào cơ thể sẽ chuyển thành pyridoxal phosphat và một phần thành pyridoxamin phosphat. Hai chất này hoạt động như những coenzym trong chuyển hoá protein, glucid và lipid. Pyridoxin tham gia tổng hợp acid gamma aminobutyric (GABA) trong hệ thần kinh trung ương và tham gia tổng hợp hemoglobulin.
Vitamin PP: Trong cơ thể Nicotinamid sau khi chuyển thành nicotinamid adenin dinucleotid (NAD) hoặc nicotinamid adenin phosphat (NADP). NAD và NADP cỏ vai trò sổng còn trong chuyển hoá, như một coenzym xúc tác các phản ứng oxy hoá khử cần thiết cho hô hấp tế bào, phân giải glycogen và chuyển hoá lipid. Trong các phản ứng đó có các coenzym này có tác dụng như những phân tử vận chuyển hydro.
Thiếu vitamin pp sẽ bị bệnh Pellagra và các bệnh trên đường tiêu hoá, da và hệ thần kinh trung ương. Bổ sung vitamin pp sẽ làm mất các triệu chứng trên.
Vitamin B12: Hai dạng vitamin B12, cyanocobalamin và hydroxocobalamin đều có tác dụng tạo máu. Trong cơ thể người, các cobalamin này tạo thành các coenzym hoạt động là methylcobalmin và 5 desoxyadenosyỉcobalamin rất cần thiết cho tế bào sao chép và tăng trưởng. Methyl cobalamin rất cần để tạo methionin và dẫn chất là s adenosylmethionin từ homocystein.
Vitamin C: cần cho sự tạo thành colagen, tu sửa mô trong cơ thể và tham gia trong một số phản ửng oxy hoá khử. Vitamin c tham gia trong chuyển hoá phenylalanin, tyrosin, acid folic, norepinephrin, histamin, sắt và một số hệ thống enzym chuyển hoá thuốc, trong sử dụng carbohydrat, trong tổng hợp lipid và protein, trong chức năng miễn dịch, trong đề kháng với
nhiễm khuẩn, trong giữ gìn sự an toàn của mạch máu và hô hấp tế bào. Thiểu vitamin c sẽ dẫn đến bệnh scorbut, biểu hiện không lành vết thương, chảy máu răng, vỡ mao mạch.
Vitamin A: Các este của vitamin A được hấp thu ở ống tiêu hoá. Kém hấp thu mỡ, ăn thiếu protein, rối loạn chức năng gan hay chức năng tụy làm giảm hấp thu vitamin A. Một số retinol được dự trữ ở gan và từ đây được giài phóng vào máu dưới dạng gắn với một globulin đặc hiệu. Dự trữ vitamin A của cơ thể thường đáp ứng đủ cho nhu cầu cơ thể trong vài tháng
Phần retinol tự do liên hợp glucuronic và bị oxy hoá thành retinal và acid retinoic rồi được đào thải qua nước tiểu và phân cùng với những phần chuyển hoá khác.
Nồng độ bình thường của vitamin A trong huyết tương là 300-600 mcg/ lít. Trong trường hợp thiếu A thì nồng độ này thấp hơn 100 mcg/ lít. Còn trong trường hợp quá liều hay ngộ độc thì nồng độ này cao hơn nhiều.
Vitamin Bỉ: Sự hấp thu thiamin trong ăn uống hàng ngày qua đường tiêu hoá là do sự vận chuyển tích cực phụ thuộc Na+. Khi nồng độ thiamin trong đường tiêu hoá cao sự khuếch tán thụ động cũng quan trọng. Tuy vậy hấp thu liều cao bị hạn chế. Ở người lớn 1 mg bị giáng hoá hoàn toàn mỗi ngày trong các mô, và đó chính là lượng tối thiểu hàng ngày. Khi hấp thu ở mức độ thấp này, có rất ít hoặc không thấy vitamin BI thải trừ qua nước tiểu. Khi hấp thu vượt quá nhu cầu tối thiểu, các kho chứa vitamin ở các mô đầu tiên được bão hoà, sau đó lượng thừa được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng phân tử thiamin nguyên vẹn. Khi hấp thu thiamin tăng lên hơn nữa, thài trừ dưới dạng thiamin chưa biến hoá sẽ tăng lên.
Vitamin B2: Riboflavin hấp thu chủ yếu ở tá tràng. Các chất chuyển hoá của vitamin B2 được phân bố vào các mô trong cơ thể và vào sữa, một lượng nhỏ được dự trữ ở gan, lách, tim và thận. Sau khi uống hoặc tiêm, khoảng 60% FAD và FMN gắn vào protein huyết tương, đào thải qua thận. Lượng đưa vào vượt quá sự cần thiết của cơ thể sẽ thải trừ dưới dạng không đổi trong nước tiếu. Riboflavin còn thài theo phân. Ở người thấm phân màng bụng và lọc máu nhân tạo, vitamin B2 cũng được đào thài nhưng chậm hơn ở người có chức năng thận bình thường. Riboflavin có đi qua nhau thai và đào thải qua sữa mẹ.
Vitamin B5: Sau khi uống, acid pantothenic dễ hấp thu qua đường tiêu hoá. Nồng độ pantothenat binh thường trong huyết tương là 100 microgam/ ml hoặc hơn. Dexpanthenol dễ dàng chuyển hoá thành acid pantothenic, chất này phân bố rộng rãi trong các mô trong cơ thể, chù yếu dưới dạng co-enzym A. Nồng độ cao nhất thấy trong gan, tuyến thượng thận, tim và thận. Sữa người mẹ cho con bú, ăn chế độ bình thường, chứa khoảng 2 microgam acid pantothenic trong 1 mỉ.
Khoảng 70% liều acid pantothenic uống thải trừ ở dạng không biến đổi trong nước tiểu và khoảng 30% trong phân.
Vitamin B6: Pyridoxin được hấp thu nhanh chóng qua đường tiêu hoá. Sau khi uống thuốc phần được tích trữ ở gan và một phần lớn ở não. Pyridoxin thài trừ chù yếu qua thận dưới dạng chuyển hoá. Lượng đưa vào, nếu vượt quá nhu cầu hàng ngày, phần lớn được đào thải dưới dạng không biến đổi.
Vitamin PP: Vitamin pp hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá sau khi uống và phân bố rộng khắp vào các mô của cơ thể. Acid nicotinic có trong sữa người. Nửa đời thải trừ của thuốc khoảng 45 phút. Nicotinamid chuyển hoá ở gan thành N – methylnicotinamid với liều thông thường, chi có một lượng nhỏ nicotinamid bài tiết vào nước tiểu ở dạng không đổi, tuy nhiên khi dùng liều lớn thì lượng thuốc bài tiết dưới dạng không thay đổi sẽ tăng lên.
Vitamin B12: Sau khi uống, vitamin B12 hấp thu nhanh qua ruột, chủ yểu ở hồi tràng theo 2 cơ ché: Cơ chế thụ động (khi lượng dùng nhiều) và cơ chế tích cực, cho phép hấp thu liều lượng sinh lý, nhưng cần phải có yếu tố nội tại là glycoprotein do tế bào niêm mạc thành dạ dầy tiết ra. Sau khi hấp thu, vitamin B12 liên kết với transcobalamin II và được loại nhanh khỏi huyết tương để phân bố ưu tiên vào nhu mô gan. Gan chính là kho dự trữ vitamin B12, cho các mò khác. Khoảng 3 mcg cobalamin được thải trừ qua mật mỗi ngày, trong đó 50-60% là dẫn chất cobalamin không tái hấp thu lại được.
Vitamin C: được hấp thu dễ dàng sau khi uống, tuy vậy hấp thu là một quá trình tích cực có thể bị hạn chế sau những liều rất lớn. Hấp thu vitamin c ở dạ dày ruột có thể giảm ở người tiêu chảy hoặc có bệnh về dạ dày ruột.
Nồng độ vitamin bình thường trong huyết tương khoảng 10-20 mcg/ ml. Dự trữ toàn bộ vitamin c trong cơ thể tính khoảng 1,5 g với khoáng 30-45 mg được luân chuyển hàng ngày. Dấu hiệu lâm sàng cùa bệnh scorbut thường trở nên rõ ràng sau 3-5 tháng thiếu hụt vitamin c.
Phân bố: Vitamin c phân bố rộng rãi trong các mô trong cơ thể. Khoảng 25% vitamin c kết hợp với protein trong huyết tương.
Thải trừ: Vitamin c oxy hoá thuận nghịch thành acid dehydroascorbic. Một ít vitamin c chuyển hoá thành những chất không có hoạt tính gồm acid ascorbic 2- sulfat và acid oxalic bài tiết trong nước tiểu. Lượng vitamin c vượt quá nhu cầu trong cơ thể cũng được nhanh chóng đào thài ra nước tiểu dưới dạng không biến đổi. Điều này thường xày ra khi lượng vitamin c nhập hàng ngày vượt quá 200 mg.
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 6 vỉ x 10 viên, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Dạng bào chế: Viên nang mềm.
PHARGINGTON có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thân Thiện.
PHARGINGTON có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệch nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VD-19225-13
Công ty TNHH sản xuất thương mại dược phẩm NIC (NIC Pharma)
Lô 11D đường C, Khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân, tp. Hồ Chí Minh Việt Nam
Việt Nam.
Không có bình luận nào
Chưa có đánh giá nào.