Suy dinh dưỡng là gì?

Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em dưới 5 tuổi là tình trạng bệnh lý hay gặp do cơ thể thiếu protein-năng lượng và các vi chất dinh dưỡng dẫn tới chậm phát triển thể chất, cân nặng so với tuổi (còn từ dưới -2SD), bệnh biểu hiện ỏ nhiều mức độ khác nhau và ảnh hưởng tới sự phát triển chung của cơ thể.

Tình hình bệnh tật?

Trên Thế giới, ở các nước đang phát triển hàng năm có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng; 12,9 triệu trẻ em bị tử vong do suy dinh dưỡng.

Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế (1995) có 45% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Năm 2002 tỉ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta là 30,1%.

Suy dinh dưỡng, Nguyên nhân, Phân loại, Cách điều trị?
Suy dinh dưỡng, Nguyên nhân, Phân loại, Cách điều trị?

Nguyên nhân gây bệnh suy dinh dưỡng

Nguyên nhân do dinh dưỡng:

Do mẹ không có sữa hoặc thiếu sữa phải nuôi nhân tạo bằng sữa bò pha loãng hoặc nước cháo có đường.

Ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn hoặc không đúng khẩu phần ăn.

Cai sữa sớm.

Nguyên nhân do nhiễm trùng:

Nhiễm trùng cấp tính: viêm phổi, ỉa chảy cấp.

Nhiễm trùng mạn: lao, sởi, rối loạn tiêu hoá kéo dài.

Một số bệnh do ký sinh trùng: giun, sán.

Những yếu tố thuận lợi:

Trẻ đẻ non, thiếu cân.

Dị tật bẩm sinh:

Sứt môi, hở hàm ếch, bệnh tim bẩm sinh…

Kinh tế khó khăn.

Phân loại

Trong lâm sàng có 2 cách phân loại thường được sử dụng là phân loại theo mức độ suy dinh dưỡng và phân loại các thể nặng.

Phân loại theo mức độ suy dinh dưỡng:

Phân loại của Gomez F (1956):

Là phân loại dựa vào cân nặng theo tuổi quy ra % của cân nặng chuẩn.

Thiếu dinh dưỡng độ I tương ứng với 75 – 90% cân nặng chuẩn.

Thiếu dinh dưỡng độ II tương ứng với 60 – 75% cân nặng chuẩn.

Thiếu dinh dưỡng độ III tương ứng với < 60% cân nặng chuẩn.

Đây là cách phân loại thông dụng, đơn giản nhưng không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay đã lâu.

Phân loại của Waterlow JC (1976):

Suy dinh dưỡng thể gầy còm (hiện đang thiếu dinh dưỡng): biểu hiện tăng cân nặng theo chiều cao thấp hơn so với chuẩn.

Suy dinh dưỡng thể còi cọc (thiếu dinh dưỡng thể trường diễn): dựa vào chiều cao thấp hơn so với chuẩn.

Cân nặng so với chiều cao
Chiều cao so với tuổi                               Trên         80%            Dưới
Trên 90% Dưới Bình thường Gầy còm
Còi cọc Gầy còm + Còi cọc

Phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (1981) (OMS):

Sử dụng biểu đồ phát triển để theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ em (dựa vào cân nặng theo tuổi). Nếu dưới 2 độ lệch chuẩn (-2 SD) so với quần thể tham khảo NCKS (national center of health statistics) của Hoa Kỳ thì được coi là suy dinh dưỡng.

Suy dinh dưỡng độ I: cân nặng dưới – 2SD đến – 3SD tương đương với cân nặng còn 70 – 80% so với cân nặng của trẻ bình thường.

Suy dinh dưỡng độ II: cân nặng dưới – 3SD đến – 4SD tương đương với cân nặng còn 60 – 70% so với cân nặng của trẻ bình thường.

Suy dinh dưỡng độ III: cân nặng dưới – 4SD tương đương với cân nặng còn dưới 60% so với cân nặng của trẻ bình thường.

Phân loại theo các thể suy dinh dưỡng nặng:

Các thể nặng, người ta dùng phân loại của  Wellcome (1970) là đánh giá cân nặng theo tuổi và phối hợp với triệu chứng phù để phân biệt giữa marasmus và kwashiorkor.

Tỷ lệ % cân nặng theo tuổi Phù
Không
60 – 80% Kwashiorkor Suy dinh dưỡng I, II
< 60% Marasmus – Kwashiorkor Marasmus

Lâm sàng và xét nghiệm

Lâm sàng:

Suy dinh dưỡng nhẹ:

Cân nặng còn 70 – 80% so với cân nặng của trẻ bình thường (tương đương – 2SD đến – 3SD).

Lớp mỡ dưới da bụng mỏng.

Trẻ vẫn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loạn tiêu hoá.

Suy dinh dưỡng vừa:

Cân nặng còn 60 – 70% so với cân nặng của trẻ bình thường (xấp xỉ – 3SD đến – 4SD).

Mất lớp mỡ dưới da bụng, mông và chi.

Rối loạn tiêu hoá từng đợt, trẻ có thể kém  ăn.

Suy dinh dưỡng nặng:

Suy dinh dưỡng nặng thể teo đét (marasmus):

  • Cân nặng sụt trên 40% so với cân nặng của trẻ bình thường ( – 4SD).
  • Mất toàn bộ các lớp mỡ dưới da bụng, mông và chi làm cho trẻ gầy đét, da bọc xương, vẻ mặt như cụ già.
  • Cơ nhẽo làm ảnh hưởng tới sự vận động của trẻ.
  • Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc không chịu chơi.
  • Trẻ có thể thèm ăn hoặc kém ăn.
  • Thường xuyên có rối loạn tiêu hoá: ỉa chảy, phân sống.
  • Gan hơi to hoặc bình thường.

Thể phù (kwashiorkor):

Cân nặng sụt từ 20 – 40% so với cân nặng của trẻ bình thường (xấp xỉ – 2SD đến – 4SD).

Phù toàn thân: phù trắng, mềm, ấn lõm.

Xuất hiện các mảng sắc tố dưới da (các mảng sắc tố thường ở bẹn, đùi, bụng), lúc đầu là những chấm đỏ rải rác sau lan dần rồi tụ lại bằng những đám màu nâu sẫm, vài ngày sau bong da để lại lớp da non rỉ nước và dễ bị nhiễm khuẩn.

Rối loạn tiêu hoá nặng: phân sống, lỏng và có nhầy mỡ.

Trẻ kém ăn, nôn trớ.

Tóc thưa, dễ rụng, móng tay mềm dễ gẫy.

Trẻ hay quấy khóc, kém vận động.

Thể phối hợp (marasmus – kwashiorkor):

  • Cân nặng sụt > 40% so với cân nặng của trẻ bình thường.
  • Phù toàn thân.
  • Mất các lớp mỡ dưới da.
  • Rối loạn tiêu hoá nặng.

Các triệu chứng kèm theo trong suy dinh dưỡng nặng là thiếu máu, thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin A dẫn đến khô mắt gây mù loà vĩnh viễn.

Xét nghiệm:

Xét nghiệm máu:

Các thành phần Marasmus Kwashiorkor
Protid máu Hồng cầu Huyết sắc tố Đường máu Điện giải đồ Hematocrit Máu lắng Bình thường hoặc giảm Bình thường hoặc tăng Giảm Giảm nhiều Giảm Tăng Tăng Rất giảm Rất giảm Rất giảm Giảm nhiều Giảm Bình thường Tăng

Xét nghiệm nước tiểu:

  • Trẻ thường đái ít, màu vàng, có thể có ít albumin.
  • Tỷ số ure/creatinin giảm .

Phân:

Cặn dư phân thường có các chất chưa tiêu hoá như tinh bột, sợi cơ, hạt mỡ trung tính.

Dịch tiêu hoá:

Độ toàn toàn thần, độ toan tự do, men pepsin, lipase, trypsin ở dịch vị, dịch ruột, dịch tá tràng đều giảm.

Điều trị

Suy dinh dưỡng nhẹ và trung bình (có thể điều trị ở nhà):

Chế độ ăn:

  • Điều chỉnh khẩu phần ăn cân đối theo ô vuông thức ăn.
  • Nếu trẻ đang còn bú mẹ thì vẫn phải cho con bú ít nhất là 2 năm.
  • Khi trẻ cai sữa thì vẫn nên cho ăn sữa bò hoặc đậu nành.

Điều trị ngay các bệnh nhiễm khuẩn (nếu có).

Hướng dẫn các bà mẹ cách nuôi trẻ khoa học và cách điều trị ngoại trú ở nhà.

Suy dinh dưỡng mức độ nặng:

  • Phải xem như một bệnh cấp cứu.
  • Phải được điều trị ở bệnh viện:

Đánh giá tình trạng rối loạn nước và điện giải để bồi phụ nước và điện giải kịp thời.

Điều chỉnh chế độ ăn: Dùng sữa cho mọi lứa tuổi; ăn nhiều bữa trong ngày; ăn từ ít đến nhiều; dùng dầu để phục hồi dinh dưỡng( pha dầu vào sữa cho nhiều năng lượng hơn)

Chống hạ đường máu( bằng cách truyền đường, ăn nhiều bữa)

  • Chống hạ thân nhiệt bằng cách ủ ấm
  • Bồi phụ vitamin A và muối khoáng
  • Truyền máu khi nặng
  • Chống nhiễm khuẩn, viêm da

Phòng bệnh

Chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ:

Người mẹ cần phải đi khám thai, theo dõi tăng cân từng tháng để bổ sung thức ăn kịp thời tránh cho trẻ khỏi bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai.

Giáo dục nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung:

Cho trẻ bú ngay sau khi đẻ. Bú kéo dài 18 – 24 tháng.

Ăn bổ sung hợp lý theo ô vuông thức ăn.

Tiêm chủng:

Thực hiện tiêm chủng theo lịch, điều trị sớm các bệnh nhiễm khuẩn.

Theo dõi cân nặng:

Để sớm phát hiện suy dinh dưỡng cần theo dõi cân nặng của trẻ.

Sinh đẻ có kế hoạch:

Không đẻ sớm, đẻ dày và đẻ muộn

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người