Cây Ngưu bàng tử là gì?

Cây Ngưu bàng tử ở mỗi vùng đều có các tên gọi khác nhau như Đại đao, Hắc phong, Thử niêm,… . Tên khoa học là Arctium Lappa Linn, tên được sử dụng trong ngành dược là Fructus Arctii Lappae, thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Cây Ngưu bàng tử là cây thân thảo, với chu kỳ sống kèo dài từ một đến hai năm, chiều cao cây Ngưu bàng tử khoảng tầm 1,5m. Thân trên phân thành nhiều cành. Là mọc rải rác trên cả cây, lá phía trên có hình hoa thị ở gốc, mọc so le ở thân, lá to bán kính lá khoảng chừng 40 – 50cm, hình tim, cuống lá dài, mặt dưới lá phủ một lớp lông trắng mỏng nhẹ. Mỗi cành có một hoa đến vài hoa, hoa mọc đầu cành, cánh hoa có màu hồng hơi ngả tím, đường kính bông hoa khoảng 2 – 4cm. Cây ra hoa vào mùa hè dần chuyển thu tháng 6 – tháng 7, bắt đầu kết quả vào cuối tháng 7 – đầu tháng 8, quả nhỏ, hơi cong, màu quả hơi xám nâu hoặc có thể là xám đen tùy quả.

Phân bố:

Bắt nguồn từ Trung Quốc, do có ý nghĩa trong ngành y dược học cổ truyền nên được đưa về nuôi trồng ở Việt Nam. Trong một lần điều tra về dược liệu ở vùng cao, đã phát hiện ra Lào Cai là nơi chứa Ngưu bàng tử có chứa hàm hượng dược chất lớn nhất đồng thời có mật độ lớn cây Ngưu bàng tử mọc hoang.

Ngưu bàng tử, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Ngưu bàng tử, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận được dùng làm thuốc:

Vào khoảng tháng 8 – tháng 9 khi các quả đã tới thời kỳ chín thì người dân sẽ thu hái về, đập lấy quả, phơi khô, hay mang sấy khô cất tủ sử dụng dần. Bởi phủ bên ngoài quả là gai nhỏ, cần chú ý đeo thêm gang tay để gay không đâm vào tay. Rễ Ngưu bàng tử cũng được dùng trong các thang thuốc, chúng được thu hái vào mùa xuân của năm thứ 2, để rễ không bị xơ nhiều và mất hết dược chất cần thu trước khi cây bắt đầu đâm hoa kết quả.

Thành phần hóa học:

Trong quả chứa 25-30% dầu béo, chất lignan (lappaol A, B, C, D, E, F, chất đắng actiin – glucosid), daucosterol, inulin. Rễ chứa khoảng 45% – 50% inulin, tinh dầu, acid stearic, polyphenol, polyacetylen, phytohormon, xyloglucan,… .

Nghiên cứu khoa học về cây Ngưu bàng tử:

Theo sách “Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” của GS-TS Đỗ Tất Lợi, Tây y dùng củ ngưu bàng làm thuốc thông tiểu, ra mồ hôi, chữa tê thấp, sưng đau khớp và một số bệnh ngoài da như hắc lào, mụn, lở loét. Đông y thường dùng quả ngưu bàng để chữa cảm cúm, thông tiểu, viêm tuyến vú, viêm phổi, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, viêm tai, mụn nhọt, sởi, đậu.

 Theo tài liệu cổ, ngưu bàng có vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, tuyên phế, thấu chẩn. Do cây có tính hàn nên người tỳ vị hư hàn, ỉa lỏng không được dùng.

Theo đông y:

Ngưu bàng tử có vị cay, đắng, tính hàn, khi vào cơ thể có tác dụng trừ phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, thông phổi, làm mọc ban chẩn, tiêu thũng và sát khuẩn. Những người tỳ vị hư hàn, đi phân lỏng không nên sử dụng.

Ngưu bàng căn có vị đắng, cay, tính hàn, khi sử dụng có tác dụng lợi tiểu (loại acid uric), khử lọc, làm ra mồ hôi, lợi mật nhuận tràng, hạ đường huyết, kết hợp với một vài bài thuốc sẽ có tác dụng với một số bệnh ngoài da.

Tác dụng chung của cây Ngưu bàng tử:

Qủa Ngưu bàng tử có tác dụng trừ phong, tán nhiệt , thông phổi làm mọc ban chẩn, tiêu thũng, giải độc, sát trùng.

Rễ có tác dụng lợi tiểu (ý nghĩa trong việc đào thải acid uric ra ngoài cơ thể), khử lọc, thoát nhiệt, lợi mật, nhuận tràng, điều trị giang mai, trị đái tiểu đường, diệt trùng và chống nọc độc.

Có tác dụng giải độc, nhờ vào khả năng làm ấm phổi và long đờm của quả hỗ trợ điều trị viêm phổi, hỗ trợ làm lành các vết thương ngoài da,… .

Một số bài thuốc về cây Ngưu bàng tử:

Chữa đậu chẩn mọc trong cổ họng:

  • Ngưu bàng tử 8g.
  • Cát cánh 6g.
  • Cam thảo 3g.

Sắc chung, lưu ý chỉ uống trong ngày, quá ngày nên bỏ sắc thuốc mới.

Chữa cảm mạo, Thủy thũng, chân tay phù:

  • Ngưu bàng tử 80g sao vàng.

 Đem xay thành bột. Ngày uống 8g bột này chia làm 3 lần uống, dùng nước nóng chiêu thuốc.

Chữa trẻ con lên đậu mọc không thuận, nóng sốt cổ họng tắc:

  • Ngưu bàng (sao) 5g.
  • Kinh giới tuệ 1g.
  • Cam thảo 2g.

Cho 200ml nước vào, sắc còn 50ml cho uống. Nếu đậu mọc rồi vẫn uống được. Nếu đại tiện lợi không nên dùng.

Bài thuốc chữa phù thận cấp tính:

  • Ngưu bàng tử 6g (nửa sao, nửa uống).
  • Phù bình ( Sao khô ) 6g.

Tất cả tán nhỏ ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 5g dung nước nóng chiêu thuốc ( Kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền ).

Tán nhiệt, giải biểu: Các chứng cảm mạo phong nhiệt, toàn thân phát sốt, sợ lạnh, miệng khát họng rát, ho, khạc ra đờm vàng.

Bài 1: Ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, thuyền thoái 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Ngưu bàng tử 24g, kim ngân 40g, liên kiều 40g, cát cánh 24g, bạc hà 24g, cam thảo 20g, đạm đậu xị 20g, hoa kinh giới 16g, lá tre 4g. Tán bột, lấy 24g hãm với nước sôi để uống, ngày 3 – 4 lần tùy theo bệnh nặng nhẹ.

Thúc sởi, tống độc: Dùng khi bệnh sởi chưa mọc, phát ban, mụn nhọt.

Bài 1: Ngưu bàng tử 16g, kinh giới tuệ 8g, cát căn 12g, bạc hà 4g, liên kiều 12g, tiền hồ 8g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g. Sắc uống.

Bài 2: Ngưu bàng tử 8g, cát cánh 6g, kinh giới tuệ 6g, cam thảo 3g, sắc uống trong ngày. Nếu đậu chẩn đã mọc vẫn uống được nhưng không dùng cho người bị đi phân lỏng, tỳ vị hư hàn.

Mát họng, giảm đau: Dùng khi phong nhiệt sinh ra viêm hạnh nhân, viêm yết hầu.

  • Ngưu bàng tử 16g.
  • Đại hoàng 12g.
  • Phòng phong 12g.
  • Bạc hà 4g.
  • Kinh giới tuệ 8g.
  • Cam thảo 4g.

Sắc uống ngày 1 thang.

Trừ đờm, dịu hen: Khi phong nhiệt nhiễm vào phổi, ho, hen có đờm.

  • Ngưu bàng tử 12g.
  • Kinh giới 12g.
  • Cam thảo 4g.

Sắc uống ngày 1 thang.

Lưu ý:

  • Không dùng cho người tâm tỳ hư và tiêu chảy.
  • Người yếu sinh lý cần thận trọng khi dùng.
  • Thành phần Arctiin trong dược liệu có thể gây ra một số tác dụng phụ như thở yếu, co giật, tê liệt, khó khăn khi cử động,…
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo.
  • Tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn.
  • Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.
0/5 (0 Reviews)
Chia sẻ tới mọi người