Cây sầu đâu là gì?

Sầu đâu là cây thân gỗ và là một trong những vị thuốc được sử dụng nhiều trong đông y. Thân cây gỗ cao chừng 10 đến 15m, nhánh cây tỏa rộng, có tán hình oval hơi tròn, có đường kính từ 15 đến 20cm.

Lá mọc so le, dài từ 20-30cm, một lần kép gồm 6-15 đôi lá chét mọc đối, nhẵn, hình ngọn giáo với gốc không cân đối, mép có răng tù.

Chuỳ hoa ở nách lá và ngắn hơn lá, gồm nhiều xim nhỏ. Hoa thơm, màu trắng, cao 5-6mm, dài có lông, nhị 10, đầu nhuỵ phình lên với 3 gai và một vòng lông. Quả hạch màu đỏ, dài 2cm, có một vỏ cứng dễ vỡ và một hạt hoá gỗ; thịt quả khi chín màu đen.

Phân bố:

Thuộc dạng cây mọc hoang, được phân bố nhiều ở các quốc gia như Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Sri Lanka và Việt Nam. Tại nước ta cây chủ yếu mọc hoang tại các tỉnh như Kiên Giang, Ninh thuận, An Giang và rải rác tại các khu vực như đồng bằng sông Cửu Long.

Cây sầu đâu, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây sầu đâu, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận sử dụng:

Phần được sử dụng làm thuốc là phần Vỏ thân, vỏ rễ, lá, hoa, quả, hạt và gôm Cortex, Cortex Radicis, Folium, Flos, Fructus, Semen et Gummis Azadirachtae Indicae.

Thành phần hóa học của cây sầu đâu:

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra, thành phần hóa học có trong cây sầu đâu bao gồm những chất chính như: Một chất dầu đắng và acid margosic. Hạt chứa tới 4,5% dầu, dầu này chứa các chất đắng nimbin, nimbinin và nimbidin; nimbidin là hoạt chất chứa sulfur. Cụm hoa chứa một glucosid nimbosterin (0,005%) và 0,5% tinh dầu, nimbosterol, nimbecetin và acid béo. Hoa chứa một chất đắng, một chất dầu kích thích đắng. Quả chứa một chất đắng bakayamin. Vỏ thân chứa 0,04% nimbin, 0,001% nimbinin và 0,4% nimbidin, 0,02% tinh dầu. Rễ cũng chứa chất đắng. Trong phân tử của chất đắng nimbin, có một acetoxy, một lacton, một ester, một methoxy và một nhóm aldehyde.

Nghiên cứu khoa học về công dụng của cây sầu đâu:

Các nghiên cứu đã chứng minh lá sầu đâu rất hiệu quả trong việc giảm bớt nồng độ glucose trong cơ thể. Nó cho phép tuyến tụy tiết insulin, khiến lượng đường trong máu được kiểm soát trong mức cho phép. Người bị tiểu đường có thể dùng 5-10 lá, tươi hoặc phơi trong mát cho hơi héo rồi đun sôi lấy nước uống mỗi ngày, nước thuốc có vị rất đắng nhưng hậu ngọt, cũng không khó uống.

Một nghiên cứu khác cho thấy dầu hạt dùng trị giun và xoa trị thấp khớp, vết thương, ghẻ và các bệnh ngoài da. Nước sắc vỏ thân, lá, hoa, thân non, dùng rửa vết thương, vết loét. Vỏ, gôm, lá và hạt đều được dùng trị rắn cắn và bọ cạp đốt.

Theo đông y:

Các bộ phận của cây (lá, hoa, vỏ) đều, có vị đắng, tính mát. Vỏ có tác dụng bổ đắng, làm săn da, hạ sốt, trừ sốt rét. Vỏ rễ và quả non cũng có tác dụng bổ, hạ sốt, gây chuyển hoá. Lá làm tan sưng, tiêu độc, sát trùng; nước sắc lá cũng có tác dụng kháng sinh sát trùng. Hoa khô có tác dụng bổ, lợi tiêu hoá, lọc máu. Quả xổ, làm dịu và trừ giun; hạt cũng sát trùng. Dầu hạt kích thích, kháng sinh và gây chuyển hoá.

Công dụng của cây sầu đâu:

  • Lá sầu đâu được sử dụng để điều trị bệnh phong, rối loạn mắt, chảy máu mũi, giun đường ruột, buồn nôn, ăn mất ngon, loét da, bệnh tim mạch, sốt, tiểu đường, bệnh nướu răng và các vấn đề về gan. Lá sầu đâu cũng được sử dụng để kiểm soát sinh sản và phá thai.
  • Vỏ cây được sử dụng để chữa bệnh sốt rét, dạ dày và ruột, bệnh da, đau và sốt. Hoa sầu đâu.
  • Hoa được sử dụng để làm giảm mật, kiểm soát đờm và điều trị giun đường ruột.
  • Quả được sử dụng để điều trị bệnh trĩ, giun đường ruột, rối loạn nước tiểu, chảy máu mũi, đờm, rối loạn mắt, đái tháo đường, vết thương và bệnh phong.
  • Cành sầu đâu được sử dụng để điều trị ho, hen suyễn, bệnh trĩ, giun, mật độ tinh trùng thấp, rối loạn nước tiểu và tiểu đường.
  • Dầu hạt giống và hạt giống được sử dụng để điều trị bệnh phong và giun đường ruột, cũng được sử dụng để ngừa thai và phá thai.
  • Cành, vỏ cây và quả được sử dụng làm thuốc bổ và chất làm se, Hỗ trợ làm hạ sốt, tiêu độc, sát trùng.

Một số bài thuốc từ cây sầu đâu?

Ðể xoa bóp đau nhức và trị bệnh ngoài da:

Sử dụng 100g lá sầu đâu ngâm vào 100g cồn 90o trong 24 giờ, rồi thêm dầu Dừa, chưng cách thuỷ trong 3 giờ, ta được dầu màu xanh lục.

Ðể trị sốt sét cơn:

Dùng vỏ thân gã giập 10g và 100ml nước, đun còn một nửa. Dùng liều 30-60g đối với người lớn, 10-20g đối với trẻ em. Bột vỏ dùng với liều 0,3-0,6g. Tiện lợi hơn là dùng cồn thuốc 200g vỏ, 500ml rượu 90o, ngâm trong 8 ngày rồi cho thêm nước cất nhiều gấp đôi vào, hằng ngày dùng 1-2 thìa cà phê, trẻ em 1 thìa, liên tục trong một tuần làm thuốc lọc mát.

Trị rắn, rết cắn và cá trê đâm:

Dùng lá Sầu đâu 1 nắm, đổ vào một chút muối quết cho nhừ, thêm vào chút nước, vắt lấy nước cho bệnh nhân uống, xác đắp trên vết thương, giây lát hết nhức (Kinh nghiệm dân gian ở tỉnh An Giang).

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người