Thông tin từ: 
Đây là dữ liệu cấp số đăng ký lưu hành gốc theo các quyết định cấp số đăng ký (SĐK) lưu hành (chưa bao gồm các dữ liệu đã được đính chính, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy ĐKLH trong quá trình lưu hành)
| Số giấy phép lưu hành (GPLH) |
|
|---|---|
| Ngày hết hạn SĐK |
|
| Tên thuốc |
|
| Thông tin hồ sơ gia hạn |
|
| Hoạt chất |
|
| Hàm lượng |
|
| Số quyết định |
|
| Năm cấp |
|
| Đợt cấp |
|
| Dạng bào chế |
|
| Quy cách đóng gói |
|
| Tiêu chuẩn |
|
| Tuổi thọ |
|
| Thông tin công ty đăng ký |
|
| Thông tin công ty sản xuất |
|
| Tài liệu công bố thay đổi bổ sung |
Sao chép số giấy phép lưu hành (GPLH) từ bảng thông tin trên, sau đó vào website Dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế:

Số đăng ký là mã do Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cấp phép lưu hành cho từng loại thuốc. Số đăng ký là dãy số đứng sau chữ SĐK - các mã thường bắt đầu bằng:
Kiểm tra đầy đủ, đối chiếu các thông tin dựa trên kết quả được tìm kiếm.

Giá liên hệ
Lưu ý: Thuốc này chỉ bán theo đơn của Bác sĩ, không bán Online, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo. Mời bạn Chat Zalo với Dược sĩ hoặc đến Nhà thuốc để được tư vấn.
| Xuất xứ | Hàn Quốc |
| Quy cách | Hộp 20 túi nhựa dẻo 300ml |
| Thương hiệu | CJ HealthCare Corporation |
| Chuyên mục | Trị nhiễm khuẩn |
| Số đăng ký |
VN-21694-19
|
| Nhà sản xuất | HK inno.N Corporation |
| Hoạt chất | Linezolid 2mg/ml |
Cinezolid Injection 2mg/ml được chỉ định: Điều trị các nhiễm khuân gây ra bỏ’i các vi khuấn nhạy cảm. Các bệnh lý nhiễm khuẩn. Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện. Viêm phối mắc phải ở cộng đồng (bao gồm nhiễm khuẩn huyết đồng thời)….
Nội dung chính
Cinezolid Injection 2mg/ml được chỉ định
Linezolid được sử dụng trong điều trị các nhiễm khuẩn gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm sau đây.
Nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da không biến chứng
Nhiễm khuẩn Enterococcus faecium đề kháng vancomycin (bao gồm nhiễm khuẩn huyết đồng thời).
Linezolid 2mg
Tá dược:
Natri citrate dehydrat 1,64mg; Anhydrous citric acid 0,85mg; Dextrose 50,24mg; Natri hydroxid vừa đủ; Hydrochloric acid vừa đủ; Nước pha tiêm vừa đủ.
Thuốc dùng đường uống tiêm truyền tĩnh mạch.
| Nhiễm khuẩn | Liều dùng và đường dùng thuốc | Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày liên tục) | |
| Trẻ em (đến 11 tuổi) | Người lớn và trẻ vị thành niên (từ 12 tuổi) | ||
| Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện | 10 mg/kg tiêm truyền tĩnh mạch hay đường uống mồi 8 giờ | 600 mg tiêm truyền tĩnh mạch hay đường uống mỗi 12 giờ
|
10 đến 14 ngày |
| Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, bao gồm nhiễm khuẩn huyết đồng thời00 | |||
| Nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da có biến chứng | |||
| Nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da không biến chứng | < 5 tuổi: 10mg/kg đường uống mỗi 8 giờ 5-11 tuổi: 10mg/kg
đường uống mỗi 12 giờ |
Người lớn: 400 mg đường uống mỗi 12 giờ
Trẻ vị thành niên (12-17 tuổi): 600 mg đường uống mỗi 12 giờ |
10 đến 14 ngày |
| Nhiễm khuẩn Enterococcus faecium đề kháng
vancomycin, bao gồm nhiễm khuẩn huyết đồng thời |
10 mg/kg tiêm tĩnh mạch hay đường uống mỗi 8 giờ | 600 mg tiêm tĩnh mạch hay đường uống mỗi 12 giờ | 14 đến 28 ngày |
Trẻ sơ sinh < 7 ngày:
Hầu hết trẻ sinh non < 7 ngày tuổi (tuổi thai < 34 tuần) có độ thanh thải linezolid hệ thống thấp hơn và giá trị AUC lớn hơn so với các trẻ sơ sinh đủ tháng và các trẻ lớn. ở các trẻ sinh non này, nên bắt đầu với liều 10 mg/ kg mỗi 12 giờ. Có thể xem xét liều 10 mg/ kg mỗi 8 giờ ở các trẻ sơ sinh có đáp ứng lâm sàng dưới tối ưu.
Nên dùng liều 10 mg/ kg mồi 8 giờ cho tất cả trẻ sơ sinh trong 7 ngày tuổi đầu tiên.
Bệnh nhân trưởng thành nhiễm tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) nên được điều trị với linezolid 600 mg mỗi 12 giờ. Nên tiêm truyền tĩnh mạch linezolid trong khoảng thời gian từ 30 đến 120 phút. Bệnh nhân đã khởi đầu điều trị với dịch tiêm truyền tĩnh mạch linezolid có the chuyển sang hoặc viên nén linezolid hoặc hỗn dịch uống theo quyết định của bác sĩ, khi có chỉ định lâm sàng.
Dịch tiêm truyền tĩnh mạch
Linezolid nên được tiêm truyền tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 30 đến 120 phút. Không sử dụng túi tiêm truyền tình mạch này trong các kết nối hàng loạt. Không nên thêm các phụ gia vào dịch tiêm truyền này. Nếu dịch tiêm truyền tĩnh mạch linezolid được dùng đồng thời với các thuốc khác, mỗi thuốc nên được sử dụng một cách riêng biệt theo liều lượng và đường dùng đã được khuyến cáo. Đặc biệt, tương kỵ vật lý đã xảy ra khi phối họp dịch tiêm truyền tĩnh mạch linezolid với các loại thuốc sau đây trong sự cho thuốc mô phỏng nhánh 3 (Y-site): amphotericin B, chlorpromazin HC1, diazepam, pentamidin isothionat, erythromycin lactobionat, phenytoin natri, và trimethoprim-sulfamethoxazol. Ngoài ra, tương kỵ hóa học cũng xảy ra khi phối họp dịch tiêm truyền tĩnh mạch linezolid với ceftriaxon natri.
[Cách sử dụng túi đựng Safe-Flex]
Không nên sử dụng linezolid ở các bệnh nhân đang sử dụng các thuốc ức chế monoamin oxidases A hoặc B (ví dụ như phenelzin, isocarboxazid, selegilin, moclobemid) hoặc trong vòng hai tuần sau khi đã dùng các thuốc này.
Suy tuy (bao gồm thiếu máu, giảm bạch cầu, thiếu máu bất sản, và giảm tiếu cầu) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với linezolid. Ở các ca đã ghi nhận hậu quả, khi ngùng linezolid, các thông số huyết học bị ảnh hưởng đã tăng về lại mức trước khi điều trị. cần theo dõi hàng tuần công thức máu đầy đủ của các bệnh nhân điều trị với linezolid, đặc biệt là ở nhũng người sử dụng linezolid lâu hơn hai tuần, nhũng người có nguy cơ gia tăng xuất huyết, nhũng người đã suy tủy,
những người sử dụng đồng thời các loại thuốc ức chế tủy xương, các loại thuốc có xu hướng gây giảm hemoglobin, giảm số lượng hoặc chức năng tiểu câu, hoặc nhũng người bị nhiêm khuân mạn tính đã hoặc đang điều trị với kháng sinh, cần xem xét ngưng điêu trị với linezolid ở những bệnh nhân xuất hiện hay tiến triển suy tủy.
Các bệnh lý thần kinh ngoại biên và thị giác đã được báo cáo ở những bệnh nhân điêu trị băng linezolid, chủ yếu ở những bệnh nhân có thời gian sử dụng dài hon thời gian khuyến cáo tối đa là 28 ngày. Trong các trường họp bệnh thần kinh thị giác tiến triển dẫn đến mất thị lực, bệnh nhân được điều trị trong thời gian dài vượt quá thời gian khuyến cáo tối đa. Làm mờ mắt đã được báo cáo ở một số bệnh nhân điều trị bằng linezolid dưới 28 ngày. Bệnh lý thần kinh ngoại biên và thị giác cũng đã được báo cáo ở trẻ em.
Nếu bệnh nhân gặp các triệu chứng suy giảm thị lực, chẳng hạn như thay đổi về thị lực, thay đổi trong việc nhận biết màu sắc, nhìn mờ, hoặc giảm tầm nhìn, cần tiến hành nhanh chóng các đánh giá thị lực. Cần phải theo dõi chức năng thị giác ở tất cả các bệnh nhân sử dụng linezolid trong thời gian dài (> 3 tháng) và ở tất cả các bệnh nhân báo cáo các triệu chứng thị giác mới bất ke độ dài của liệu pháp với linezolid. Nếu bệnh lý thần kinh ngoại biên và thị giác xảy ra, việc sử dụng linezolid tiếp theo ở những bệnh nhân này cân được cân nhăc trước nhũng nguy cơ tiềm ẩn.
Đã báo cáo tự phát về hội chúng serotonin, bao gồm các truờng họp tử vong liên quan đến việc dùng đồng thời các thuốc linezolid và serotonergic, bao gồm thuốc chống trầm cảm như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs).
Trừ khi có chì định lâm sàng phù hợp và bệnh nhân được theo dõi cẩn thận các dấu hiệu và/ hoặc triệu chứng của hội chúng serotonin hay các phản úng giống hội chúng an thần kinh ác tính (neuroleptic malignant syndrom-like, NMS-like), không nên sử dụng linezolid ở các bệnh nhân sau đây: bệnh nhân mắc hội chứng carcinoid, bệnh nhân đang sử dụng bất kỳ thuốc nào sau đây: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc đồng vận thụ the serotonin 5- HT1 (triptans), meperidin, bupropion, hay buspiron.
Trong một số trường họp, bệnh nhân đang dùng thuốc chống trầm cảm serotonergic hoặc buspirone có thể yêu cầu điều trị khẩn cấp với linezolid. Nếu không có thuốc thay thế cho linezolid và tiềm năng lợi ích của linezolid lớn hơn các nguy cơ của hội chủng serotonin hay các phản úng giống hội chúng an thần kinh ác tính, nên ngùng thuốc chống trầm cảm serotonergic nhanh chóng và sử dụng linezolid. Bệnh nhân nên được theo dõi trong hai tuần (năm tuần nếu dùng fluoxetin) hoặc đến 24 giờ sau khi dùng liều linezolid cuối cùng, tùy điều kiện nào đến trước. Các triệu chứng của hội chủng serotonin hay các phản ứng giống hội chúng an thần kinh ác tính, bao gồm tăng thân nhiệt, cúng dơ toàn thân, giật rung cơ, sự bất ổn tự động, và những thay đổi trạng thái tinh thần bao gồm sự kích động cực độ tiến triển đến mê sảng và hôn mê. Bệnh nhân cũng nên theo dõi các triệu chúng ngưng dùng thuốc chống trầm cảm.
Có sự mất cân bằng về tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân được điều trị với linezolid so với vancomycin / dicloxacillin/ oxacillin trong một nghiên cứu nhãn mở ở những bệnh nhân mắc bệnh nặng với nhiễm khuẩn nội mạch liên quan đến cathether [78/363 (21,5%) so với 58/363 (16,0% ); tỷ lệ chênh 1,426, 95% CI 0,970, 2,098], Trong khi vẫn chưa xác định được nguyên nhân, sự mất cân bằng ghi nhận được này xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân được điều trị với linezolid hoặc nhiễm các tác nhân Gram âm, hoặc nhiễm hỗn hợp cả tác nhân Gram âm và Gram dương, hoặc không xác định được tác nhân gây bệnh lúc ban đầu, chứ không quan sát được ở các bệnh nhân chỉ nhiễm khuẩn Gram dương.
Linezolid không được chấp thuận và không nên được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn máu liên quan đến catheter hay các nhiễm khuẩn tại vị trí đặt catheter
Linezolid không có hoạt tính lâm sàng chống lại các tác nhân gây bệnh Gram âm, và không được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn Gram âm. cần thiết phải bắt đầu ngay các điều trị Gram âm chuyên biệt nếu có ghi nhận hay nghi ngờ có nhiễm khuẩn Gram âm đồng thời
Tiêu chảy liên quan Clostridium difficile {Clostridium difficile associated diarrhea – CDAD) đã được báo cáo khi sử dụng hầu hết các tác nhân kháng khuẩn, kể cả linezolid, và mức độ nghiêm trọng dao động từ tiêu chảy nhẹ đến viêm ruột kết gây tử vong. Điều trị bàng các thuốc kháng khuẩn làm thay đổi hệ vi khuấn của đại tràng, dẫn đến sự phát triển quá mức của c. difficile.
CDAD phải được xem xét ở tất cả các bệnh nhân có biêu hiện tiêu chảy sau khi dùng kháng sinh.
Cần phải theo dõi bệnh nhân vì CDAD đã được báo cáo xảy ra hơn hai tháng sau khi dùng kháng sinh
Nếu có nghi ngờ hay đã xác định CDAD, nên ngùng điều trị kháng sinh hiện dùng nếu trị liệu này không nhằm chống lại c. difficile, cần thiết lập kiểm soát dịch và điện giải, bổ sung protein, điều trị kháng sinh chống c. difficile, và đánh giá phẫu thuật theo chỉ định lâm sàng.
Trừ khi bệnh nhân được theo dõi sự tăng huyết áp tiềm ẩn, vì các tương tác tiềm tàng có the làm huyết áp tăng cao, không nên sừ dụng linezolid ở các bệnh nhân sau đây:
Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được, Bệnh nhân u tủy thượng thận, bệnh nhân tăng năng tuyến giáp và/ hoặc bệnh nhân đang sử dụng bất kỳ thuốc nào sau đây: thuốc kích thích trực tiếp hay gián tiếp thần kinh giao cảm (ví dụ như pseudoephedrin), thuốc co mạch (ví dụ như epinephrin, norepinephrin), thuốc cường dopamin (ví dụ như dopamin, dobutamin)
Nhiễm toan lactic đã được báo cáo khi sử dụng linezolid. Trong các trường họp được báo cáo, bệnh nhân thường xuyên lặp lại cơn buồn nôn và nôn mửa. Những bệnh nhân bị buồn nôn hoặc nôn tái diễn, nhiễm toan không giải thích được, hoặc có mức bicarbonat thấp trong khi điều trị với linezolid cần đưọc đánh giá y tế ngay lập tức.
Co giật đã được báo cáo ở các bệnh nhân điều trị với linezolid. Một số trong các trường họp này có tiền sử động kinh hay có các yếu tố nguy cơ gây co giật. Bệnh nhân cần thông báo với bác sĩ nếu có tiền sử động kinh.
Các trưòng hợp có triệu chúng hạ đường huyết ghi nhận được sau khi đưa thuốc ra thị trường đã được báo cáo ở những bệnh nhân đái tháo đường dùng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết đường uống khi điều trị với linezolid, một chất ức chế thuận nghịch và không chọn lọc MAO. Một số thuốc ức chế MAO có liên quan tới các cơn hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường dùng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết. Trong khi một mối quan hệ nhân quả giữa linezolid và hạ đường huyết hiện vẫn chưa được xác lập, các bệnh nhân tiểu đường nên được cảnh báo về các phản ứng hạ đường huyết tiềm tàng khi điều trị với linezolid. Nếu xảy ra hạ đường huyết, có thế cần giảm liều insulin hoặc thuốc hạ đường huyết, hoặc ngưng điều trị với thuốc hạ đường huyết đường uống, insulin, hoặc linezolid.
Việc kê đơn linezolid trong trường họp thiếu bằng chúng hoặc không có nghi ngờ rõ ràng của nhiễm khuẩn hoặc kê đơn với chỉ định dự phòng hầu như không đem lại lợi ích cho bệnh nhân và làm tăng nguy cơ phát triển các vi khuẩn kháng thuốc.
Thuốc này nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân sau đây:
Trẻ em
Bệnh nhân lớn tuổi
Trên 2046 bệnh nhân điều trị với linezolid trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh có kiểm soát Pha 3, 589 (29%) từ 65 tuổi trở lên, và 253 (12%) từ 75 tuổi trở lên. Không ghi nhận thấy sự khác biệt trên tổng thể về tính an toàn hay tính hiệu quả giữa các bệnh nhân này với các bệnh nhân trẻ tuổi hơn.
Bệnh nhân suy thận
Bệnh nhân suy gan
Dược động học của linezolid không bị thay đổi ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Trên cơ sở các thông tin hiện có, không có khuyến cáo điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Chưa có đánh giá về dược động học của linezolid ở bệnh nhân suy gan nặng.
Phụ nữ có thai:
Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát trên phụ nữ mang thai. Chỉ nên sử dụng linezolid trong thai kỳ khi các lợi ích vượt hẳn các nguy cơ tiềm ẩn cho bào thai.
Phụ nữ cho con bú:
Linezolid và các chất chuyển hóa được tiết qua sữa ở các động vật cho con bú, cần ngưng linezolid trước hay trong quá trình nuôi con bằng sữa mẹ.
Linezolid có thể gây đau đầu, chóng mặt, ảnh hưởng đến việc điều khiển xe cộ hay vận hành máy móc. Cần thận trọng nếu dùng thuốc khi đang lái xe hay vận hành máy móc.
Ức chế monoamin oxidase: Linezolid là một chất ức chế thuận nghịch và không chọn lọc monoamin oxidase. Do đó, linezolid tiềm ẩn khả năng tương tác với các tác nhân adrenergic và serotonergic.
(1) Tác nhân adrenergic: Một số bệnh nhân sử dụng linezolid có thể xuất hiện một sự tăng cường đáp ứng tăng huyết áp thuận nghịch với các thuốc có tác dụng cường giao cảm gián tiếp, thuốc co mạch, hay thuốc cường dopaminergic. Các thuốc thường được sử dụng như phenylpropanolamin và pseudoephedrin đã được nghiên cứu cụ thể. Liều khởi đầu của các tác nhân adrenergic, như dopamine hay epinephrine, cần được giảm và điều chỉnh để đạt đáp ứng như mong muốn. Khi sử dụng liều linezolid và tyramin hơn 100 mg cho các cá thể trưởng thành khỏe mạnh thì đã ghi nhận được một phản ứng tăng huyết áp đáng kế. Vì thế, bệnh nhân đang điều trị với linezolid cần tránh dùng lượng lớn thức ăn hay đồ uống có hàm lượng tyramin cao.
(2) Tác nhân serotonergic: sử dụngđồng thời linezolid và các tác nhân serotonergic không liên quan đến hội chứng serotonin trong các nghiên cứu lâm sàng. Các báo cáo tức thời hội chứng serotonin có liên quan với sử dụng đồng thời linezolid và các tác nhân serotonergic, bao gồm cả thuốc chống trầm cảm như các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs), vừa được báo cáo.
Khi việc sử dụng đồng thời linezolid và các tác nhân serotonergic phù hợp về mặt lâm sàng, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng serotonin như rối loạn chức năng nhận thức, sốt cao, tăng phản xạ và mất phối hợp. Neu xảy ra các dấu hiệu hoặc triệu chúng này, cần xem xét ngừng điều trị một trong hai hoặc cả hai thuốc. Neu ngừng sử dụng các tác nhân serotonergic, có thể quan sát thấy sự mất các triệu chứng này.
Thuốc chuyển hóa bởi cytochrome P450: Linezolid không phải là một chất cảm ứng cytochrome P450 (CYP) ở chuột. Không phát hiện được sự chuyển hóa của linezolid bởi cytochrome P450 ở người, và linezolid cũng không ức chế hoạt động của các đông dạng CYP có ý nghĩa lâm sàng quan trọng ờ người (1A2, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1, 3A4). Vì thế, kỳ vọng là không có tương tác thuốc gây ra do cảm úng CYP450 với linezolid. Sử dụng đồng thời linezolid không làm thay đổi đáng kể các đặc tính dược động học của (S)-warfarin, vốn được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C9. Các thuốc như warfarin và phenytoin, vốn là các cơ chất của CYP2C9, có thê được sử dụng đồng thời với linezolid mà không cần hiệu chỉnh liều.
Kháng sinh: dược động học của linezolid, gentamicin hoặc aztreonam không thay đôi khi được sử dụng cùng nhau.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với thuốc khác.
Người lớn:
Tính an toàn của các dạng bào chế linezolid được đánh giá trên 2046 bệnh nhân trưởng thành tham gia trong bảy thử nghiệm lâm sàng so sánh có kiềm soát pha 3, với thời gian điều trị lên đến 28 ngày. Trong những nghiên cứu này, 85% của các tác dụng phụ được báo cáo của linezolid đã được mô tả có mức độ từ nhẹ đến trung bình. Các tác dụng phụ thưÒTig gặp nhất ở nhũng bệnh nhân được điều trị vói linezolid là tiêu chảy (2,8% đến 11,0%), nhức đầu (0,5% đến 11,3%), và buồn nôn (3,4% đến 9,6%).
Trẻ em:
Tính an toàn của các dạng bào chế linezolid được đánh giá trên 215 bệnh nhân nhi trong độ tuổi từ sơ sinh đến 11 tuổi, và trên 248 bệnh nhi trong độ tuổi từ 5 đến 17 tuổi (146 trong số 248 trẻ này từ 5 đến 11 tuổi và 102 trẻ từ 12 đến 17 tuổi). Trong những nghiên cứu này, tương ứng 83% và 99% các tác dụng phụ được báo cáo với linezolid được mô tả có mức độ từ nhẹ đến trung bình. Trong nghiên cứu trên các bệnh nhi nhập viện (trẻ sơ sinh đến 11 tuổi) do nhiễm khuẩn Gram dương, tỷ lệ tử vong là 6,0% (13/215) ở nhóm điều trị với linezolid và 3,0% (3/101) ở nhóm chứng. Tuy nhiên, do các bệnh lý nghiêm trọng tiềm ẩn trong dân số bệnh nhân này, không thể thiết lập được mối quan hệ nhân quả. Tỷ lệ các tác dụng phụ thường gặp là lớn hơn 5%, các tác dụng không mong muốn hiếm gặp là 0,1-5%.
Nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da không biến chứng
Các phản ứng không mong muốn ghi nhận trong một nghiên cứu lâm sàng trên các bệnh nhi tuổi từ 5 đến 17 tuổi được liệt kê sau đây:
| Toàn thân | Thường gặp: đau đầu |
| Hiếm : sốt, chấn thương, đau cục bộ | |
| Hệ thần kinh | Hiếm : chóng mặt |
| Tiêu hóa | Thường gặp: tiêu chảy |
| Hiếm :Buồn nôn, nôn, đau bụng, phân lỏng. | |
| Da | Hiếm : phát ban, rối loạn da, ngứa tại vùng không dùng thuốc |
| Hệ máu-bạch huyết | Hiếm : tăng bạch cầu ái toan |
| Hệ hô hấp | Hiếm : nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm họng, ho |
Các chỉ định khác
Các phản ứng không mong muốn ghi nhận trong một nghiên cứu lâm sàng trên các bệnh nhi nhập viện tuổi từ sơ sinh đến 11 tuồi được liệt kê sau đây:
| Toàn thân | Thường gặp: sốt, nhiễm khuẩn huyết |
| Hiếm : đau đâu, chân thương, phù, đau cục bộ, phản ứng tại vị trí tiêm hay phản úng mạch liên quan đến catheter, sốc phản vệ | |
| Hệ thần kinh | Hiếm : co giật |
| Tiêu hóa | Thường gặp: tiêu chảy, buồn nôn |
| Hiếm: nôn, đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, phân lỏng, nhiễm nấm Candida miệng | |
| Da | Thường gặp: phát ban |
| Hiếm : rối loạn da | |
| Hệ máu-bạch huyết | Thường gặp: thiếu máu |
| Hiếm gặp: giảm tiểu cầu, tăng tiểu cầu, tăng bạch cầu ái toan | |
| Hệ hô hấp | Thường gặp: Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm họng, viêm phổi, ho, ngùng thở |
| Chuyển hóa và dinh dưỡng | Hiếm: Hạ kali máu |
Suy tủy (bao gồm thiếu máu, giảm bạch cầu, thiếu máu bất sản, và giảm tiểu cầu) đã được báo cáo sau khi linezolid được đưa ra thị trường. Bệnh lý thần kinh ngoại biên, và bệnh thần kinh thị giác đôi khi tiến triển đến mất thị lực, đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với linezolid. Các báo cáo này chủ yếu ờ nhũng bệnh nhân được điều trị lâu hon thời gian điều trị khuyến cáo 28 ngày. Nhiễm acid lactic, phù mạch, sốc phản vệ đã được báo cáo khi sử dụng linezolid. Rất hiếm khi các rối loạn da dạng bóng nước toàn thân như trong hội chúng Stevens-Johnson được báo cáo. Nhũng phản ứng này được lựa chọn để đưa vào là do hoặc mức độ nghiêm trọng, tần số được báo cáo, mối liên hệ nhân quả có thể có với linezolid, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này. Bởi vì nhũng phản úng này được được báo cáo trên tinh thần tự nguyện từ một mẫu dân số không rõ kích thước, nên không thể ước tính tần số cũng như không thể thiết lập chính xác được mối quan hệ nhân quả.
Các ghi nhận cục bộ sau khi đưa ra thị trường
Trong 6 năm, một nghiên cứu cục bộ sau khi đưa ra thị trường của linezolid được thực hiện trên 702 bệnh nhân. Bất kể mối liên quan tới thuốc, 44,02% (309/702, tống số: 569 trường hợp) được báo cáo, các trường hợp báo cáo đưọc tóm tắt theo các hệ sinh lý như sau:
Các thận trọng toàn thân
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Cần tham vấn ý kiến bác sỹ khi:
Linezolid là một kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm kháng sinh mới-oxazolidinones. Nó có hoạt tính trên in vitro kháng lại vi khuẩn hiếu khí Gram dương và các vi sinh vật kỵ khí. Linezolid ức chế chọn lọc sụ tổng họp protein vi khuẩn qua một cơ chế đặc hiệu là gắn kết với một vị trí trên ribosome của vi khuẩn (23S của tiếu đơn vị 50S) và ngăn chặn sự hình thành phức hợp khởi đầu 70S, thành phần cần thiết của giai đoạn dịch mã.
Hiệu ứng hậu kháng sinh (PAE) trên in vitro của linezolid đối với Staphylococcus aureus xấp xỉ 2 giờ. Khi đo trên động vật thử nghiệm, PAE trên in vivo là 3,6 và 3,9 giờ tương ứng đối với Staphylococcus aureus và Streptococcus pneumoniae. Thử nghiệm trên động vật, thông số dược lực học chính cho hiệu quả là thời gian mà nồng độ linezolid huyết tương vượt quá nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với sinh vật nhiễm.
Điểm cắt
Điểm cắt nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được thiết lập bởi ủy ban Châu Âu về thử nghiệm độ nhạy cảm kháng sinh (EUCAST) đối với Staphylococci và Enterococci là nhạy cảm < 4mg/L và đề kháng >4 mg/L. Điểm cắt của Streptococci (bao gồm s.pneumoniae) là nhạy cảm < 2mg/L và đề kháng >4 mg/L.
Điểm cắt nồng độ ức chế tối thiểu của các vi khuẩn chưa xác định loài là nhạy cảm < 2 mg/L và đề kháng > 4 mg/L. Điểm cắt của các vi khuẩn chưa xác định loài được xác định dựa vào dữ liệu PK/PD và độc lập với phân bố MIC của các loài cụ thể. Dữ liệu chỉ áp dụng khi không có điểm cắt đặc hiệu và không dùng cho nhũng loài mà thử nghiệm nhạy cảm không được khuyến cáo.
Nhay cảm
Tỉ lệ đề kháng có thể thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian đối với các loài được chọn và thông tin về đề kháng theo từng địa phương, đặc biệt khi điều trị nhiễm khuẩn nặng, cần có lời khuyên của chuyên gia khi tỉ lệ đề kháng địa phưong của các tác nhân này cần được đánh giá, chí ít trong một số các trường họp nhiễm trùng.
Linezolid đã được chứng minh có hoạt tính kháng khuẩn với các chủng vi khuẩn sau, cả in vitro và trong các nhiễm khuẩn lâm sàng.
Nhóm nhạy cảm
Gram dương hiếu khí:
Enterococcus faecalis
Enterococcus faecium *
Staphylococcus aureus *
Tụ cầu staphylococci coagulase âm tính
Streptococcus agalactiae *
Streptococcus pneumoniae*
Streptococcus pyogenes *
Streptococci nhóm c Streptococci nhóm G
Gram dương kỵ khí:
Clostridium perfringens
Peptostreptococcus anaerobius
Peptostreptococcus species
Nhóm đề kháng
Haemophilus influenzae
Moraxella catarrhalis
Neisseria species
En terobacteriaceae
Pseudomonas species
Hiệu quả lâm sàng được thiết lập cho chủng nhạy cảm trong các chỉ định lâm sàng đã được phê duyệt. Trong khi linezolid cho thấy hoạt tính kháng lại Legionella, Chlamydia pneumoniae và Mycoplasma pneumoniae in vitro, không có đủ dữ liệu lâm sàng.
Hiện đã có các dữ liệu in vitro sau đây, tuy nhiên ý nghĩa lâm sàng của chúng vẫn chưa được biết rõ. Nồng độ ức chế tối thiểu (minimum inhibitory concentration-MIC) in vitro của ít nhất 90% các vi khuẩn sau đây bé hơn hay bằng giá trị ngưỡng nhạy cảm của linezolid. Tuy nhiên, tính an toàn và hiệu quả của linezolid trong điều trị nhiễm khuẩn lâm sàng gây ra bởi các vi khuẩn này vẫn chưa được thiết lập bởi các thử nghiệm lâm sàng phù hợp và có kiểm soát.
Vi khuẩn Gram dương hiếu khí và kỵ khí tùy ý: Enterococcus faecalis (bao gồm cả các chủng đề kháng vancomycin), Enterococcus faecium (các chủng nhạy cảm với vancomycin), Staphylococcus epidermidis (bao gồm cả các chủng đề kháng methicillin), Staphylococcus haemolyticus, Streptococcus pneumoniae (các chủng đề kháng với penicillin), liên cầu viridans.
Vi khuẩn Gram âm hiếu khí và kỵ khí tùy ý: Pasteurella multocida
Linezolid không có hoạt tính lâm sàng chống lại các tác nhân gây bệnh Gram âm, và không được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn Gram âm. cần thiết phải bắt đầu ngay các điều trị Gram âm chuyên biệt nếu có ghi nhận hay nghi ngờ có nhiễm khuẩn Gram âm đồng thời.
Đề kháng
Đề kháng chéo
Cơ chế tác dụng của linezolid thay đối so với các thuốc kháng sinh khác trong cùng một nhóm. Nghiên cứu in vitro trong phân lập lâm sàng (bao gồm tụ cầu staphylococci đề kháng methicillin, enterococci đề kháng vancomycin và streptococci đề kháng penicillin và erythromycin) cho thấy linezolid có hoạt tính chống lại các sinh vật có đề kháng với một hoặc một số nhóm thuốc kháng sinh.
Đề kháng linezolid liên quan đến đề kháng ở 23S rRNA.
Các tài liệu ghi nhận khi kết hợp các thuốc kháng sinh khác trong điều trị nhiễm khuẩn ở những ca khó và/hoặc dùng thuốc kéo dài làm giảm đáng kể sự nhạy cảm của linezolid, đề kháng với linezolid đã được ghi nhận trên enterococci, Staphylococcus aureus và tụ cầu staphylococci coagulase âm tính. Sự đề kháng có liên quan đến liệu trình điều trị kéo dài và cấy ghép các vật liệu giả hoặc áp xe không khô. Khi có sự đề kháng kháng sinh mắc phải ở bệnh viện, các chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn hết sức quan trọng.
Các thông số dược động học trung bình của linezolid ở người lớn sau khi tiêm tĩnh mạch liều đơn và đa liều được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Thông số dược động học trung bình của linezolid ở người lớn:
| 600mg tiêm tĩnh mạch | Cmax gg/mL | Cmin
pg/mL |
Tmax
Giờ |
AUC µg*giờ/mL | T1/2 Giờ | CL mL/phút |
| Liều đơn | 12,90 | — | 0,50 | 80,20 | 4,40 | 138 |
| Mỗi 12 giờ | 15,10 | 3,68 | 0,51 | 89,70 | 4,80 | 123 |
Hấp thu: linezolid được hâp thu nhanh chóng và rộng rãi sau khi dùng thuôc. Nông độ huyêt tương tối đa đạt được vào khoảng 1-2 giờ sau khi dùng thuốc, và sinh khả dụng tuyệt đối vào khoảng 100%. Vì vậy, linezolid có thể được dùng đường đường tiêm tĩnh mạch mà không cần điều chỉnh liều. Thòi gian dùng linezolid không phụ thuộc vào thời gian dùng bữa. Thời gian đạt nồng độ tối đa bị chậm từ 1,5 giờ đến 2,2 giờ và Cmax giảm khoảng 17% khi dùng linezolid với thực phẩm giàu chất béo. Tuy nhiên, tổng giá trị thu được như các giá trị AUCo-00 tương đương nhau trong cả hai điều kiện.
Phân bố: các nghiên cứu dược động học trên động vật và con người đã chứng minh rằng linezolid dễ dàng phân phối đến các mô được tưới máu tốt. Khoảng 31% linezolid gắn kết với các protein huyết tương và tỷ lệ này không phụ thuộc vào nồng độ. Thể tích phân bố của linezolid ở trạng thái ổn định vào khoảng 40-50 lít ở các tình nguyện viên trưởng thành khỏe mạnh. Nồng độ linezolid đã được xác định trong các dịch sinh học khác nhau từ một số hạn chế các đối tượng tình nguyện trong các nghiên cứu pha 1 sau khi dùng nhiều lieu linezolid. Tỷ lệ của linezolid trong nước bọt so với trong huyết tương là 1,2 đến 1 và giữa mồ hôi so vói huyết tương là 0,55 đến 1.
Chuyển hóa: linezolid chủ yếu được chuyển hóa bởi quá trình oxy hóa vòng morpholin, tạo nên hai chất chuyển hóa axit cacboxylic mở vòng không hoạt tính: axit aminoethoxyacetic (A), và hydroxyethyl glycine (B). Sự hình thành chất chuyến hóa A được cho là thông qua một con đường enzym trong khi chất chuyển hóa B được hình thành trung gian qua một cơ chế oxy hóa hóa học phi enzym in vitro. Các nghiên cứu in vitro đã chứng minh linezolid được chuyến hóa tối thiếu và có thể được xúc tác bởi cytochrom P450 ờ người. Tuy nhiên, con đường chuyển hóa của linezolid vẫn chưa được hiểu đầy đủ.
Bài tiết: sự thanh thải không qua thận chiếm khoảng 65% sự thanh thải của linezolid. Dưới các điều kiện trạng thái ổn định, khoảng 30% liều dùng xuất hiện trong nước tiểu nguyên vẹn linezolid, 40% ở dạng chất chuyển hóa B, và 10% ở dạng chất chuyển hóa A. Độ thanh thải linezolid qua thận thấp (trung bình 40 ml/phút), đề xuất sự tái hấp thu đơn thuần của linezolid ở ống thận. Hầu như không có linezolid xuất hiện trong phân, trong khi khoảng 6% liều dùng xuất hiện trong phân dưới dạng chất chuyển hóa B, và 3% dạng chất chuyển hóa A. Khi tăng lieu linezolid, ghi nhận được một mức độ nhỏ phi tuyến tính trong độ thanh thải, dường như là do sự thanh thải tại thận và ngoại thận của linezolid giảm ở nồng độ cao. Tuy nhiên, sự khác biệt trong độ thanh thải rất nhỏ và không phản ánh được qua thời gian bán thải trung bình biểu kiến.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người cao tuổi: không có thay đổi đáng kể về dược động học của linezolid ở nhũng bệnh nhân cao tuối (từ 65 tuổi trở lên). Vì vậy, không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân cao tuổi.
Trẻ em: Dươc động học của linezolid sau một liều duy nhất tiêm tĩnh mạch đã được nghiên cứu ở các bệnh nhi trong độ tuổi từ sơ sinh đến 17 tuổi (bao gồm cả trẻ sơ sinh thiếu tháng và đủ tháng), ở các trẻ vị thành niên khỏe mạnh trong độ tuổi từ 12 đến 17 tuổi, và ở các bệnh nhi trong độ tuổi từ 1 tuần đến 12 tuổi. Các giá trị Cmax và thể tích phân bố (Vss) của linezolid tương đương bất kể tuổi tác các bệnh nhi. Tuy nhiên, sự thanh thải linezolid khỏi huyết tương thay đổi như một hàm phụ thuộc độ tuổi. Với việc loại nhóm trẻ sơ sinh thiếu tháng ít hơn một tuần tuổi, sự thanh thải là nhanh nhất ở nhóm các trẻ nhỏ tuối nhất từ hơn 1 tuần tuổi đến 11 tuổi, dẫn đến sự tiếp xúc toàn thân sau khi dùng liều đơn (AUC) thấp hơn và thời gian bán thải ngắn hơn so với người lớn.
Khi tuổi của bệnh nhi tăng, độ thanh thải linezolid giảm dần, và khi đến tuổi vị thành niên, giá trị độ thanh thải trung bình gần với giá trị quan sát được ở nhóm dân số trưởng thành. Độ biến thiên về độ thanh thái linezolid và sự tiếp xúc thuốc toàn thân (AƯC) giữa các đối tượng ỏ’ các nhóm trẻ em lớn hơn so với nhóm người lớn. Giá trị AUC trung bình hàng ngày ghi nhận ở nhóm bệnh nhi từ lúc mới sinh đến 11 tuối dùng mỗi 8 giờ một liều tương tự với nhóm trẻ vị thành niên hay người lớn dùng mỗi 12 giờ một liều. Vì thế, bệnh nhi tới 11 tuổi nên dùng liều 10 mg/ kg mỗi 8 giờ. Bệnh nhi từ 12 tuổi trở lên nên dùng liều 600mg mỗi 12 giờ.
Thông số dưọc động học của linezolid ở bệnh nhi và người trưởng thành khi truyền tĩnh mạch
| Nhóm tuổi | Cmax mcg/mL | Vss L/kg | AUC* mcg*giờ/mL | T1/2 giờ | CL mL/phút/kg |
| Trẻ sơ sinh | |||||
| Sinh non** <1tuaafn (N=9) | 12,7 (30%)
[9,6;22,2] |
0,81 (24%)
[0,43; 1,05] |
108 (47%)
[41; 191] |
5.6 (46%)
[2,4; 9,8] |
2.0 (52%)
[0,9; 4,0] |
| Đủ tháng*** <1 tuần (N=10) | 11,5 (24%)
[8,0; 18,3] |
0,78 (20%)
[0,45; 0,96] |
55 (47%)
[19; 103] |
3,0 (55%)
[1,3; 6,1] |
3,8 (55%)
[1,5; 8,8] |
| Đủ tháng*** ≥ tuần đến ≤ 28 ngày | 12,9 (28%)
[7,7; 21,6] |
0,66 (29%)
[0,35; 1,06] |
34 (21%)
[23; 50] |
1,5 (17%)
[1,2; 1,9] |
5,1 (22%)
[3,3; 7,2] |
| Trẻ nhũ nhi và trẻ giai đoạn răng sữa >28 ngày đến <3 tháng (N=12) + | 11,0 (27%) [7,2; 18,0] | 0,79 (26%) [0,42; 1,08] | 33 (26%)
[17; 48] |
1,8 (28%) [1,2; 2,8] | 5,4 (32%) [3,5; 9,9] |
| Trẻ nhỏ
3 tháng tuổi đến 11 tuổi (N=59) |
15,1 (30%) [6,8; 36,7] | 0,69 (28%) [0,31; 1,50] | 58 (54%) [19; 153] | 2,9 (53%) [0,9; 8,0] | 3,8 (53%) [1,0; 8,5] |
| Trẻ vị thành niên Từ 12 đến 17 tuổi (N=36) | 16,7 (24%) [9,9; 28,9] | 0,61 (15%) [0,44; 0,79] | 95 (44%) [32; 178] | 4,1 (46%) [1,3; 8,1] | 2,1 (53%) [0,9; 5,2] |
| Người trưởng
thành5 (N=29) |
12,5 (21%) [8,2; 19,3] | 0,65 (16%) [0,45; 0,84] | 91 (33%) [53; 155] | 4,9 (35%) [1,8; 8,3] | 1,7 (34%) [0,9; 3,3] |
AUC = liều đon AUCo-k
** Trong bảng số liệu, trẻ sinh non được xem là <34 tuần thai (lưu ý: chỉ có 1 bệnh nhi sinh non trong nhóm trẻ từ 1 tuần đến 28 ngày.
***Trong bảng số liệu, trẻ đủ tháng được xem là >34 tuần thai.
t Liều 10mg/kg
Ị Liều 600mg hoặc 10mg/kg đến tối đa 600mg
Cmax= Nồng độ tối đa trong huyết tương; Vss = Thể tích phân bố; AUC = Nồng độ dưới đường cong
t 1/2 = Thời gian bán thải biểu kiến; CL = độ thanh thải toàn thân theo cân nặng
Giới tính: Nữ giới có thể tích phân bố linezolid thấp hơn một chút so với nam giới. Nồng độ trong huyết tương ở nữ cao hơn ở nam, một phần là do sự khác biệt về trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể giữa hai giới tính trên hằng số tỷ lệ thải trù’ biểu kiến hay thời gian bán thải. Như vậy, sự tiếp xúc thuốc ở phụ nữ được dự kiến sẽ không tăng lên đáng kể, vượt quá mức được dung nạp tốt đã biết. Vì vậy, không cần thiết phải điều chỉnh liều theo giới tính.
Bệnh nhân suy thận: Dược động học của thuốc mẹ, linezolid không bị thay đổi ở những bệnh nhân suy thận ở bất kỳ mức độ nào; tuy nhiên, hai chất chuyển hóa chính của linezolid có thể tích tụ ở bệnh nhân suy thận, với lượng tích lũy tăng theo với mức độ nghiêm trọng của suy thận. Ý nghĩa lâm sàng của sự tích tụ của hai chất chuyển hóa này chưa được xác định ở bệnh nhân suy thận nặng. Bởi vì các nồng độ của linezolid trong huyết tương đạt được tương tự nhau bất kể chức năng thận, không có khuyến cáo điều chinh liều ở bệnh nhân suy thận. Tuy nhiên, do thiếu thông tin về ý nghĩa lâm sàng của sự tích tụ của các chất chuyển hóa chính, khi sử dụng linezolid ở bệnh nhân suy thận cần cân nhắc lợi ích với các nguy cơ tiềm ẩn của sự tích tụ của các chất chuyển hóa này. Cả linezolid và hai chất chuyển hóa đều được thải trừ bằng cách lọc máu. Không có thông tin về tác động của thẩm phân phúc mạc trên dược động học của linezolid. Khoảng 30% liều dùng được thai trừ trong một phiên lọc máu kéo dài 3 giờ, bắt đầu 3 giờ sau khi dùng linezolid; do đó nên sử dụng linezolid sau khi lọc máu.
Bệnh nhân suy gan: Dươc động học của linezolid không bị thay đổi ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình (bảng phân loại Child-Pugh nhóm A hay B). Trên cơ sở các thông tin hiện có, không có khuyến cáo điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Chưa có đánh giá về dược động học của linezolid ở bệnh nhân suy gan nặng.
Chưa có tài liệu nghiên cứu nào được công bố.
Nên bảo quản ở những nơi khô ráo, thoáng mát, nhiệt độ từ dưới 30 độ C và để xa tầm tay của trẻ em.
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng được in trên bao bì sản phẩm.
Để đảm bảo sức khỏe thì không nên sử dụng sản phẩm đã quá hạn.
Hộp 20 túi nhựa dẻo 300ml, kèm toa hướng dẫn sử dụng.
Khối lượng tịnh: 150g.
Dạng bào chế: dung dịch tiêm truyền.
Thuốc Cinezolid Injection 2mg/ml có thể được bán tại các nhà thuốc, bệnh viện trên toàn quốc, hoặc quý vị có thể đặt hàng ngay trên các trang web. Hiện sản phẩm cũng đang được bán chính hãng tại hệ thống Nhà Thuốc Thân Thiện.
Thuốc Cinezolid Injection 2mg/ml có giá bán trên thị trường hiện nay là: 0.000đ/ hộp 20 túi. Mức giá trên có thể bao gồm cả cước phí vận chuyển tới tận tay người tiêu dùng.
Tùy theo từng đơn vị phân phối mà giá bán có thể sẽ bị chênh lệnh nhau, tuy nhiên mức chênh lệch cũng không đáng kể.
Số đăng ký lưu hành: VN-21694-19
Công ty sản xuất: CJ HealthCare Corporation.
Địa chỉ: 20 Daesosandan-ro, Daeso-myeon, Eumseonggun, Chungcheongbuk-do Korea.
Hàn Quốc
Không hiển thị thông báo này lần sau.