Hoa cúc trắng là gì?

Hoa cúc trắng là dạng cây thân cỏ, sống dai hoặc sống được một năm, được trồng để làm cảnh và được sử dụng làm vị thuốc quý trong đông y. Thân cây mọc thẳng đứng, có rãnh, có chiều cao khoảng 0,5 đến 1m, bên ngoài thân cây có bao lông trắng, mềm.

Lá của cúc trắng mặt dưới có lông và trắng hơn mặt trên, lá có 3 thùy trái xoan tròn đầu hay hơi nhọn. Lá mọc so le nhau, mép lá có răng cưa và lượn sóng. Cuống lá có tai ở gốc, đầu to, các lá bắc ở ngoài hình chỉ, phủ lông trắng, các lá phía trong thuôn hình trái xoan.

Hoa cúc trắng thường mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá, có đường kính từ 2,5 đến 5cm mỗi bông. Hoa có màu trắng, đẹp, các hoa ở giữa hình ống nhiều, màu vàng nhạt. Không có mào lông, tràng hoa hình ống có tuyến, 5 thùy, nhị 6, bao phấn ở tai ngắn, nghiên. Quả bế có hình dạng gần giống với hình trái xoan, bông thường hay sử dụng để ướp trà.

Cúc trắng có tên khoa học là Chrysanthemum morifolium Ramat (Chrysanthemum sinese Sabine) thuộc họ Cúc (Asteraceae) và được biết với các tên khác như cúc diệp, hoặc Tiết hoa, Nữ tiết, Nữ hoa, Nữ hành, Nhật tinh, Cảnh sinh, Truyền duyên niên, Âm thành, Chu doanh,….

Phân bố:

Cúc trắng được phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ẩm và cận nhiệt đới Bắc bán cầu. Ở Việt Nam, cây này cũng được trồng nhiều theo quy hoạch và được phân bố rải rác từ miền Bắc tới miền Nam.

Hoa cúc trắng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!
Hoa cúc trắng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!

Bộ phận dùng:

Dược chất có chứa chủ yếu trong cúc trắng tập trung ở hoa, vì vậy hoa của cây cúc trắng được sử dụng làm thuốc. Hoa sau khi thu hái, được rửa sạch và đem đi phơi trong râm hoặc phơi nắng sau khi đồ.

Thành phần hóa học của cúc trắng:

Theo các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thành phần hóa học có chứa trong cúc trắng bao gồm những chất chính sau: Tinh dầu, trong đó có chrysanthemol, Camphor, monobornylphtalat. Flavonoid: luteolin, quercetin, apigerun, glucosid. apligenin, galactopyranosid, acacetin, acacilin, baicallin, luteollin, methoхуlutcolіn Acid phenol: acid clorogenic acid quinic, lafciat, acid quinic ,cafciat.. Sesquiterpen: chlorochrymorin, chrysandiol, chrysartemin A, chrysartemin B. Các thành phần khác: Hydroxy pseudotarasterol palmitat, ester của acid acetic, acid elagic.

Những nghiên cứu khoa học về cúc trắng:

Nghiên cứu trên thủy tinh thể của chuột nhắt trắng cho thấy, Cao chiết với nước nóng của cúc hoa trắng có hoạt tính ức chế mạnh aldose reductase ở thể thuỷ tinh chuột. Ngoài ra còn chỉ ra Acid elagic có ở cúc hoa trắng là chất có hoạt tính ức chế mạnh aldose reductase.

Trong một thử nghiệm lâm sàng trên 54 bệnh nhân có tăng huyết áp, 31 bệnh nhân được điều trị với glycosid cúc hoa trắng và 23 bệnh nhân còn lại được cho placebo để đối chứng. kết quả cho thấy hiệu quả đối với tăng huyết áp giai đoạn 1 tốt hơn là đối với tăng huyết áp giai đọan II và III. Trước và sau khi dùng thuốc, điện tâm đồ của bệnh nhân không có sự tốt lên hoặc xấu đi rõ rệt, có sự giảm nhẹ về trị số trung bình cholesterol và beta-lipoprotein máu.

Nghiên cứu cho thấy thành phần triterpenoid glycoside của hoa cúc có khả năng kháng nấm. Một thành phần của hoa cúc là thujone có thể làm tăng tiết nước bọt và máu chảy, cũng như có thể làm thư giãn tinh thần.

Theo đông y:

Theo sách bản kinh thì, cúc hoa có vị đắng, tính bình, quy vào kinh phế, tỳ, can, thận, tác dụng giúp dưỡng huyết mục, khứ ế mạc, minh mục, thanh tán phong nhiệt, bình can, giải độc, thanh nhiệt.

Công dụng của cúc hoa:

  • Giúp an thần nhẹ.
  • Giúp thanh nhiệt, giải độc, mát gan.
  • Hỗ trợ làm sáng mắt.
  • Hỗ trợ giúp giảm đau và giúp trị tiêu chảy, trị ho.
  • Hỗ trợ trị co thắt đường tiêu hóa.
  • Giúp hỗ trợ trị viêm phế quản, rối loạn gan, thận và giúp giảm các bệnh về viêm.
  • Hỗ trợ làm đẹp da và giúp thanh lọc máu.
  • Hỗ trợ chữa trị phong nhiệt cảm mạo, đau đầu và hỗ trợ làm tăng huyết áp.
  • Hỗ trợ trị mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt.
  • Hỗ trợ chữa suy nhược thần kinh và chữa mụn nhọt.

Một số bài thuốc về cúc hoa:

Trị đầu đau do phong nhiệt:

Dùng Cúc hoa, thạch cao, Xuyên khung, đều 12g. tán bột. Mỗi lần uống 6g với nước trà.

Trị thái âm phong ôn, ho, sốt, hơi khát:

Sử dụng Hạnh nhân 8g, Liên kiều 6g, Bạc hà 3,2g, Tang diệp 10g, Cúc hoa 4g, Cát cánh 8g, Cam thảo 3,2g, Vi căn 8g. sắc với 2 chén nước, còn 1 chén. Chia làm 3 lần uống.

Trị phong thấp đau nhức ở gối, chân:

Cúc hoa, Ngải diệp lâu năm, tán bột, trộn với hồ đắp lên trên gối, lâu ngày sẽ khỏi.

Trị mắt có màng mộng sau khi bị bệnh:

Bạch Cúc hoa, Thuyền thoái, 2 vị bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 2-12g trộn với một ít mật, sắc uống.

Trị âm hộ sưng đau:

Cúc hoa ngọn non, gĩa nát, sắc lấy nước xông, còn nước dùng để rửa

Trị say rượu không tỉnh:

Lấy Cúc hoa tán bột, uống.

Trị hoa mắt, chóng mặt:

Sử dụng Cam cúc hoa 1 cân, Hồng tiêu (bỏ mắt) 240g, tán bột, trộn với nước Địa hoàng, làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước trướckhi đi ngủ.

Tri nhức đầu do huyết hư:

Sử dụng Cúc hoa, Xuyên khung, Tế tân, Cảo bản, Đương quy, Sinh địa, Thục địa hoàng, Thiên môn, Mạch môn, Bạch thược dược, Cam thảo, Đồng tiện.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

Không dùng cho người tỳ vị hư hàn hoặc đau đầu do phong hàn.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người