Cây Đại hoàng là gì?

Cây Đại hoàng hay còn gọi với tên khác là Hoàng lương (Bản Kinh), Tướng quân (Lý Thị Dược Lục), Hỏa sâm, Phu như (Ngô Phổ bản thảo), Phá môn, Vô thanh hổ, Cẩm trang hoàng (Hòa Hán Dược Khảo), Thiệt ngưu đại hoàng (Bản Thảo Cương Mục), Cẩm văn, Sanh quân, Đản kết, Sanh cẩm văn, Chế quân, Xuyên quân, Chế cẩm văn, Sanh đại hoàng,… . Tên khoa học là Rheum palmatum Baill, thuộc Họ Rau Răm (tên danh pháp khoa học là Polygonaceae).

Nhận dạng Đại hoàng trong y cổ truyền:

  • Có màu rất vàng, nếm vào miệng thấy lạo xạo và có bọt nước vàng nên gọi là Đại hoàng.
  • Có chức năng thay cũ đổi mới như dẹp loạn nên gọi là Tướng quân.
  • Khi cắt ra thấy có vân như gấm (là loại tốt) nên gọi là Cẩm văn đại hoàng.

Đại hoàng là cây thân thảo lớn, thuộc dòng cây sống lâu năm. Lá mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba. Lá của Rheum palmatum thì có những thùy sâu hơn R.officinale. Gân lá nổi mặt dưới, thường màu đỏ nhạt. Từ năm thứ 3 – 4 thì xuất hiện 1 thân mọc lên cao 1 – 2m mang một số lá nhỏ. Phần ngọn thân lá chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa. Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt, hoặc đỏ nhạt, 9 nhị. Qủa đóng 3 góc.

Cây Đại hoàng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Đại hoàng, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Phân bố:

Đại hoàng là cây dễ nuôi trồng, chúng ưa khí hậu mát ẩm, đặc biệt phù hợp với những nơi có độ cao trên 1000m. Đại hoàng ở nước ta là giống cây di thực từ các nước láng giềng, được trồng nhiều ở

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Thân rễ cây Đại hoàng(Rhizoma Rhei). Thu hoạch vào cuối thu, khi lá khô héo hoặc mùa xuân năm sau, trước khi cây nảy mầm. Đao lấy thân rễ, loại bỏ rễ tua nhỏ, cạo vỏ ngoài, thái lát hoặc cắt đoạn, xuyên dây thành chuỗi, phơi khô.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học chính của Đại hoàng là Anthraquinon 3 – 5%, tanin 5 -12%.

Tác dụng – công dụng chung của cây Đại hoàng:

Chất anthraquinon có trong cây Đại hoàng có tác dụng lên đại tràng, làm giảm tái hấp thu nước bằng cách tăng tiết dịch và tăng nhu động ruột. Dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, nhuận tẩy.

Theo đông y:

Theo sách ghi của đông y, đại hoàng có vị đắng, tính hàn, đi vào các kinh tỳ, vị, đại tràng, tâm bào và can. Qua chế biến, tính vị của đại hoàng sẽ có chút thay đổi. Khi chích giấm, vị của nó hơi chua, vào kinh can để tăng tác dụng lợi mật; chế với mật ong thì có vị hơi ngọt, tăng tác dụng vào tỳ vị…; sao cháy tăng tác dụng cầm máu. Đại hoàng có công năng thanh tràng thông tiện, tả hỏa giải độc, trục ứ thông kinh.

Các liều dùng của Đại hoàng:

  • Liều nhỏ (0,05 – 0,1 g/ngày): thuốc bỏ giúp tiêu hóa.
  • Liều vừa  (0,1 – 0,15 g/ngày): thuốc nhuận tràng.
  • Liều cao (0,5 – 2 g/ngày): thuốc xổ.

Dùng dưới dạng sắc hoặc hãm.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Đại hoàng:

Trong Đại hoàng có chứa thành phần là Anth raquinone – đây là chất có khả năng tác động lên đường tiêu hóa gây tiêu chảy. Chủ yếu tác động lên đại tràng trường, làm cho trương lực của đoạn giữa và cuối đại trường tăng, nhu động ruột tăng, nhưng không trở ngại cho việc hấp thu chất dinh dưỡng của tiểu trường. Nhưng trong Đại hoàng có chất Tanin vì thế sau khi tiêu chảy thường hay có táo bón. Hoặc liều nhỏ ( ít hơn 0, 3g/kg) cũng có thể gây táo bón (Chinese Hebral Medicine).

Nước sắc từ Đại hoàng làm tăng co bóp túi mật, giãn cơ vòng Oddi khiến mật bài tiết (Trung Dược Học) có tác dụng lợi tiểu, bảo vệ gan và giảm Cholesterol máu đối với thỏ bị gây cao Cholesterol và cho uống thuốc. Tuy nhiên khi thực nghiệm với chó bình thường thì không có tác dụng (Chinese Hebral Medicine).

Đại hoàng có chứa thành phần ức chế vi khuẩn, là dẫn chất của Anthraquinone có tác dụng kháng khuẩn rộng, chủ yếu đối với tụ cầu, liên cầu, song cầu khuẩn lậu, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, kiết lỵ. Còn có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh và virút cúm (Trung Dược Học).

Nước sắc Đại hoàng cho chó gây mê uống thấy có hiện tượng huyết áp hạ. Liều nhỏ của Đại hoàng kích thích tim ếch, liều lớn ngược lại, có tác dụng ức chế (Trung Dược Học).

Thành phần Emodin và Rhein có trong dược liệu có khả năng ức chế trực tiếp lên sự sinh trưởng của tế bào ung thư của Melanoma, ung thư vú và ung thưgan kèm trướng nước ở bụng nơi chuột (Chinese Hebral Medicine).

Ngoài ra, chúng còn chứa thành phần Chrysophanol, nó có tác dụng cầm máu, rút ngắn thờỉ gian đông máu, làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch, cải thiện độ bền của thành mạch, làm tăng Fibrinogene trong máu, làm tăng co thắt mạch máu, kích thích tủy xương tạo tiểu cầu, nhờ đó làm tăng nhanh thời gian đông máu.

Một số bài thuốc có cây Đại hoàng:

Trị kinh nguyệt bế tích; sau đẻ máu xấu bị ứ tích, gây đau bụng; ngã, chấn thương ứ huyết sưng đau:

Đại hoàng 9g + ngưu tất, ích mẫu, mỗi vị 12g. Sắc lấy nước uống.

Vị tràng thực nhiệt dẫn đến đại tràng bí kết, táo bón nặng, thậm chí có khi dẫn đến sốt cao, nói mê sảng, phát cuồng:

Đại hoàng (sao vàng), hậu phác mỗi vị 9g + mang tiêu (natrium sulfuricum) 15g + chỉ thực 6g (sao vàng xém cạnh). Cho tất cả các vị vào sắc lấy nước uống,duy trì sử dụng đều đặn mỗi ngày 1 thang, chia làm 2-3 lần, uống trước bữa ăn khi thuốc còn ấm. Uống liền vài ngày tới khi hết táo bón.

Trị nôn ra máu, chảy máu cam, trĩ ra máu, màng kết hợp sung huyết, sung huyết não, lợi bị sưng phù:

Đại hoàng (sao cháy); hoàng cầm, hoàng liên, mỗi vị cân lấy 12g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 2-3 lần trước bữa ăn. Uống liền nhiều ngày tới khi các triệu chứng giảm.

Người bị táo bón mạn tính, táo bón do nghề nghiệp:

Đại hoàng (sao vàng) 45g + đào nhân 20g + mộc hương, chỉ thực, sài hồ, cam thảo, mỗi vị 15g. Các vị đi phơi khô nghiền thành bột mịn, thêm lượng mật ong vừa đủ làm thành viên hoàn, chia làm 2 lần uống sáng và tối, mỗi lần dùng khoảng 6g.

Hoặc để dễ dàng sử dụng, bạn có thể làm thành viên hoàn, uống ngày 1 lần 9g với nước hãm chỉ thực hoặc chỉ xác.

Trong đông y, để tăng nhu động ruột và làm cho đại tiện thông suốt thì đại hoàng thường được dùng kèm với chỉ thực, hoặc chỉ xác: đại hoàng phi chỉ xác bất thông; có nghĩa là đại hoàng làm phân nát ra, song để tống ra ngoài cần phải có chỉ thực hoặc chỉ xác, là những vị thuốc có tác dụng làm tăng nhu động ruột.

Trường hợp táo bón nhẹ hoặc táo bón ở những người sức khỏe yếu, người cao tuổi, phụ nữ sau sinh:

Đại hoàng (sao vàng), hậu phác, mỗi vị 9g + chỉ thực hoặc đại hoàng cân lấy 6g + hỏa ma nhân 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2-3 lần uống, uống trước bữa ăn, khi thuốc còn ấm. Uống liền vài ngày tới khi hết táo bón.

Lưu ý:

  • Dùng lâu bị táo do tanin tích lũy.
  • Khi dùng đại hoàng trị táo bón không nên dùng thời gian dài, sẽ gây táo bón trở lại; vì trong đại hoàng ngoài các chất gây tẩy còn có các chất tanin gây sáp trường, săn se niêm mạc ruột.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây hoàng liên chân gà!

Chia sẻ tới mọi người