Mã tiền là gì?

Mã tiền thuộc dạng cây thân gỗ có kích thước tầm trung và là một trong những vị thuốc được sử dụng nhiều ở trong đông y. Thân cây cao trung bình 5 đến 12m, thường sinh sống ở những có độ cao so với mực nước biển lá 1.200m, có vỏ màu xám có lỗ bì, cành non có gai.

Lá thường mọc đối xứng nhau, có hình trứng đầu nhọn, chiều dài trung bình khoảng 9cm, rộng 5cm, mặt trên xanh bóng và có 5 gân hình cung nổi rõ ở mặt dưới. Cụm hoa có dạng hình ngù thường mọc ở đầu cành. Hoa nhỏ hình ống màu vàng nhạt. Có 5 cánh hoa hàn liền thành 1 ống dài trung bình từ 1- 1,2 cm, nhị 5, dính ở trên ống tràng. Bầu hình trứng, nhẵn.

Quả thịt, có dạng hình cầu, đường kính 3 – 5 cm, vỏ nhẵn bóng, khi chín có màu vàng cam, chứa từ 1 – 5 hạt hình đĩa dẹt như chiếc khuy áo, đường kính 2 – 2,5 cm, dày 4 – 5 mm, một mặt lồi, một mặt lõm, có lông mượt màu xám bạc. Mùa hoa bắt đầu từ tháng 3 đến 4 và mùa quả từ tháng 5 đến 8.

Cây mã tiền thảo có tên khoa học là Strychnos nuxvomica L thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae) và được biết đến với các tên khác như: Củ Chi, Cổ Chi, Hoàng Đàn, hay Võ Doản,…

Mã tiền, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Mã tiền, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Phân bố:

Cây mã tiền phân bố ở hầu khắp các tỉnh vùng núi nước ta như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hoà Bình, Bắc Giang, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị… đặc biệt có nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Kiên Giang. Riêng loài Strychnos cathayensis Merr và mới gặp ở tỉnh Quảng Ninh. Ngoài ra còn có mặt ở các nước Đông nam á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, Miến điện, Vân nam Trung quốc.

Bộ phận dùng:

Phần được sử dụng là bộ phận Hạt (Semen Strychnin) của mã tiền thảo đã phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học có trong mã tiền:

Theo các nhà khoa học đưa ra, thành phần hóa học có trong mã tiền thảo bao gồm các chất chính như: chứa dầu béo, glycosid (loganosid), acid loganic, stigmasterin, cyloartenol và nhiều alcaloid: strychnin, brucin, vomicin, cloubrin, psedostrychnin, loganin…

Những nghiên cứu khoa học về cây mã tiền:

Theo một nghiên cứu cho thấy, Strychin có tác dụng kích thích thần kinh tương đối mạnh hơn trên tế bào vận động của hệ thần kinh trung ương, đặc biệt trên tủy sống. Nó kích thích những khả năng về trí não, làm tăng cảm giác về xúc giác, thính giác, khứu giác, vị giác và cơn đau.

Nghiên cứu cho thấy, chiết xuất mã tiền có tác dụng Đối với tim và tuần hoàn có tác dụng tăng huyết áp, do các mạch máu ngoại vi bị co nhỏ. Đối với dạ dày và bộ máy tiêu hoá tăng bài tiết dịch vị, tăng tốc độ chuyển của thức ăn sang ruột. Tuy nhiên nếu dùng luôn thì sẽ gây biến loạn tiêu hoá, biến loạn co bóp dạ dày.

Theo đông y:

Mã tiền có vị đắng, tính hàn, có độc mạnh, quy vào kinh can tỳ. Tác dụng giúp tiêu thũng tán kết, thông lạc chỉ thống, hỗ trợ trị các chứng ung thư sang độc, thương tổn sưng đau và hỗ trợ chứng phong thấp, tê dại, bại liệt.

Công dụng của mã tiền:

  • Hỗ trợ giúp hoạt lạc và giúp làm giảm đau.
  • Hỗ trợ trị tê bại cơ, gân và hỗ trợ trị chân tay yếu mềm nhũn.
  • Hỗ trợ giúp trừ phong thấp và giúp cắt các cơn động kinh.
  • Giúp tán ứ, tiêu thũng và giúp trị nhọt sưng độc, ung nhọt.
  • Hỗ trợ điều trị các bệnh về đường tiêu hóa.
  • Hỗ trợ trị rối loạn tim và hệ tuần hoàn.
  • Hỗ trợ cải thiện các bệnh về mắt, bệnh phổi, trầm cảm, nhức đầu migraine.
  • Hỗ trợ làm giảm các triệu chứng mãn kinh, bệnh Raynaud, thiếu máu.
  • Giúp kích thích sự thèm ăn và hỗ trợ trị rối loạn chức năng cương dương.

Một số bài thuốc từ cây mã tiền:

Trị viêm khớp và viêm khớp dạng thấp:

Thuốc có tác dụng hoạt lạc chỉ thống. Mã tiền tử 300g, Ngưu tất, Cam thảo, Thương truật, Ma hoàng, Toàn yết, Cương tàm, Nhũ hương, Một dược đều 36g. Tất cả tán xay thành bột mịn trộn đều. Người cơ thể khỏe mỗi lần uống 0,5 – 1g, cơ thể yếu và người già giảm liều. Uống với rượu trước lúc ngủ (sau khi uống tránh gió).

Trị đau nhức khớp lâu ngày không khỏi và khớp biến dạng:

Bạn dùng hạt mã tiền 380g, xuyên ô 380g, thảo ô 380g, mộc qua 335g, khương hoạt 380g, phụ tử 70g, ngưu tất 335g, ma hoàng 335g, độc hoạt 380g, đương quy 335g, nhũ hương 155g, một dược 155g. Nghiền chung thành bột mịn, lấy quế chi 125g, sắc lấy nước đặc, làm thành hoàn bằng hạt đậu xanh. Bạn dùng trước khi đi ngủ với 4g hỗn hợp trên và nước đun sôi còn nóng.

Trị di chứng tê bại ở trẻ em:

Bạn dùng 63g hạt mã tiền, 63g tỳ giải, 63g ngưu tất, 63g thịt rắn đen, 63g tục đoạn, 63g rết, 63g dâm dương hoắc, 63g đương quy, 63g nhục thung dung, 63g cẩu tích, 63g mai mực, 63g mộc qua, 80g thỏ ty tử, 125g tằm vôi. Trước tiên, bạn bỏ riêng dâm dương hoắc sắc lấy nước để làm hoàn, còn các vị khác nghiền chung thành bột. Bạn uống 3 lần/ngày, mỗi lần từ 0,8 – 1,5g (người yếu mệt nên giảm liều), bạn nên uống với nước sôi còn ấm thành bột. Bạn uống 3 lần/ngày, mỗi lần từ 0,8 – 1,5g (người yếu mệt nên giảm liều), bạn nên uống với nước sôi còn ấm.

Hỗ trợ trị động kinh:

Bạn dùng hạt mã tiền (bỏ lông ngoài) 32g, dầu vừng 1.000g, giun đất sấy khô 8 con (nghiền thành bột). Trước tiên, bạn cho dầu vừng vào chảo đun sôi, thả hạt mã tiền vào, rán đến khi có màu đỏ tía. Sau đó, bạn lấy ra và nghiền thành bột. Tiếp đến, trộn với bột giun đất, lấy bột mì làm hồ, hoàn bằng hạt cải. Mỗi lần bạn uống 0,35-1g (trẻ em giảm bớt liều), bạn nên uống lúc sắp đi ngủ với nước muối.

Trị họng sưng đau:

Bạn dùng hạt mã tiền, thanh mộc hương, sơn đậu căn, liều lượng như nhau. Nghiền thành bột và thổi vào họng.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

Uống trong không dùng sống mà phải bào chế giảm độc, không dùng quá liều, không uống lâu. Người yếu, phụ nữ có thai không dùng. Thuốc có thể hấp thu qua da cho nên dùng ngoài diện tích không quá lớn.

5/5 (1 Review)
Chia sẻ tới mọi người