Cây Ngưu tất là gì?

Ngưu tất còn có nhiều tên gọi đặc biệt khác như Cỏ xước, bách bội, ngưu tịch, hoài ngưu tất, xuyên ngưu tất, ngưu kinh, cỏ xước hai răng,… . Tên khoa học là Achyranthes bidentata Blume,thuộc họ Dền (Amaranthaceae).

Đây là cây thân thảo, cao khoảng 1m, thân mảnh. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá, hoa mọc huognws lên nhưng khi thành quả sẽ quắp xuống. Qủa nang, lá bắc còn lại và nhọn thành gai.

Phân bố:

Ngưu tất là giống cây di thực từ nước láng giềng Trung Quốc. Nó thường mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta. Bởi nó có tác dụng đối với ngành dược Y cổ truyền nên được trồng rộng rãi với số lượng lớn.

Cây Ngưu tất - Cỏ xước, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Ngưu tất – Cỏ xước, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận dùng:

Xem thêm

Bộ phận dùng làm thuốc là rễ cây Ngưu tất (Radix Radix Achyranthis bidentatae), thu hoạch khi cây bắt đầu úa vàng, rửa sạch rồi phơi hay sấy khô. Rễ to, dài, dẻo là loại tốt.

Thành phần hóa học:

Rễ cây Ngưu tất có chứa thành phần chính là saponin ở dạng acid oleanolic, Ecdysteron, Inokosteron, Chất nhầy, Muối của kali, Glucoza, Rhamnoza, Glactoza.

Tác dụng – công dụng chung của cây Ngưu tất:

Ngưu tất chữa đau xương khớp, đau lưng gối, bí tiểu tiện, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều. Ngoài ra còn có tác dụng hạ cholesterol máu, hạ huyết áp.

Theo đông y:

Ngưu tất có tính ôn. Vị đắng xen lẫn vị chua, chủ yếu đi vào hai kinh Can, Thận có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, trừ ứ, mạnh gân cơ, kích thích tiểu tiện, bổ can thận. Dược liệu này được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh chảy máu dạ con, bí tiểu, bế kinh, đau bụng kinh, phong hàn tê thấp, đau lưng, mỏi gối… .

Dùng với liều từ 6 – 12g dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Ngưu tất:

Ngưu tất được đưa vào thực nghiệm với một vài loài động vật, thu được kết quả:

  • Động vật sau khi bị gây mê bằng dịch chiết Ngưu tất có thể làm hạ huyết áp tạm thời, và sẽ trở lại bình thường sau 1 vài phút, tuy nhiền sau đó nó lại hơi tăng so với huyết áp bình thường.
  • Thực nghiệm trên ếch thấy lục co bóp của cơ tim bị suy yếu, cũng như sức co bóp của khúc tá tràng cũng có sự thay đổi.
  • Đồng thời trong Ngưu tất có chứa thành phần có tác dụng lợi tiểu và làm kích thích sự vận động của tử cung.
  • Ecdysteron và inokosteton trong Ngưu tất có khả năng kìm hãm sự phát triển của 1 số loài sâu bọ.

Một số bài thuốc có cây Ngưu tất:

Chữa đau dây thần kinh hông:

Uy linh tiên, độc hoạt, đan sâm, tang ký sinh, ngưu tất, xuyên khung, mỗi vị 12g + phòng phong, quế chi, tế tân, chỉ xác, trần bì, mỗi vị 8g, Cho tất cả các vị vào sắc lấy nước uống.

Dùng cho phụ nữ bị xuất huyết dạ con:

Xuyên ngưu tất 30g, sắc hai lần nước, bỏ bã, pha nước sắc 1 và nước sắc 2 với nhau rồi uống. Mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống.

Trị bí tiểu tiện ở người cao tuổi:

Ngưu tất, thục địa, xa tiền tử, hoài sơn mỗi vị cân lấy 12g + trạch tả, đan bì, phục linh, sơn thù, phụ tử chế mỗi vị cân lấy 8g + nhục quế 4g. Tất cả đem thái nhỏ, sắc với 400ml nước, tiếp tục sắc đến khi còn khoảng 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.

Thuốc cho phụ nữ mãn kinh: phiền táo, nhức đầu, ngủ không ngon giấc:

Cỏ nhọ nồi 9g + hồng hoa 9g + hoàng cầm 9g + đương quy 9g + xuyên khung 6g + sinh địa 12g + hoa cúc 9g + bạch thược 12g + ngưu tất 9g + nữ trinh tử 9g + lá dâu 9g. Sắc lên lấy nước, uống mỗi ngày một thang.

Trị bế kinh, khi có kinh đau bụng:

Ngưu tất (chích rượu) 12g + ích mẫu 16g + hương phụ (tứ chế), đào nhân, uất kim, tạo giác thích (gai bồ kết), mỗi vị 8g. Cho tất cả các vị vào sắc uống, lưu ý uống thuốc vào sau kỳ kinh khoảng 7-10 ngày. Mỗi thang sắc 2 lần, trộn 2 nước lại với nhau, chia ra làm 2 – 3 lần uống trong ngày, uống trước bữa ăn, duy trì dùng trong 14 ngày đảm bảo một liệu trình.

Trị rong kinh:

Ngưu tất, bạch truật, cỏ nhọ nồi mỗi vị 12g + phục linh, bán hạ (chế), trần bì, hương phụ, mỗi vị 8g. Cho tất cả các vị vào sắc lấy nước uống, mỗi ngày dùng một thang. Duy trì uống liên tiếp 2-3 tuần cho hết một liệu trình.

Trị chảy máu cam:

Ngưu tất, đại giả thạch, tiên hạc thảo, với lượng bằng nhau. Đem đi nghiền chung thành bột mịn. Mỗi lần uống thì lấy 10g, ngày dùng từ 1 – 3 lần. Duy trì dùng hết 1 liệu trình, 1 liệu trình là 10 ngày.

Trừ phong thấp, mạnh gân cốt, can thận yếu dẫn tới đau lưng mỏi gối:

Tầm gửi cây Dâu + Cẩu tích + Ngưu tất, lấy với lượng bằng nhau, đem sắc lấy nước uống.

Bài thuốc trị khớp xương đau nhức:

Bài 1: Dùng thục địa, đỗ trọng, hy thiêm thảo, cốt toái bổ, hà thủ ô, kê huyết đằng, độc hoạt, phòng đảng sâm, xuyên quy, kim ngân hoa, thổ phục linh mỗi thứ 12g, can khương 4g, cam thảo 4g, ngưu tất 8g, quế chi 8g, xuyên khung 8g. Đem sắc uống, mỗi ngày dùng 1 thang.

Bài 2: Độc hoạt, Tang ký sinh, Xuyên khung, Đương quy, Ngưu tất, Cẩu tích, Thiên niên kiện, Sinh điạ, mỗi vị cân lấy khoảng 8 – 12g. Sắc uống ( theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị sởi có viêm họng:

Ngưu tất 20g + cam thảo 10g. Cho hai vị thuốc này vào sắc lấy nước uống thay trà hàng ngày.

Lưu ý:

  • Không nên dùng Ngưu tất cho phụ nữ có thai, người mộng hoạt tinh, phụ nữ kinh nguyệt nhiều.
  • Thảo dược này có thể tương tác với những thuốc bạn đang dùng hay tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn. Bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi sử dụng cây sen.
  • Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Xem thêm: Cây ô dầu!

Chia sẻ tới mọi người